Thứ Bảy, ngày 31 tháng 1 năm 2015

Tin đồn thất thiệt: Vì sao?

Mấy ngày qua trên mạng đang loan truyền nhiều về về trường hợp được cho là "chữa khỏi bệnh ung thư gan" của GS Văn Như Cương với hầu hết các nhân vật và ngày giờ cụ thể khiến bất cứ ai đọc qua cũng thấy hay và bổ ích, đáng rút kinh nghiệm...! Đây là một bài báo như vậy: http://petrotimes.vn/news/vn/phong-su-dieu-tra/ai-chua-benh-ung-thu-cho-giao-su-van-nhu-cuong.html
Nhưng, với chút KN của một bệnh nhân, tui thấy bài báo trên không khác gì hàng trăm bài đã lưu truyền trên mạng bấy lâu nay và e rằng nếu tác giả hoặc bản thân GS Văn Như Cương và các bác sĩ trực tiếp tham gia ca bệnh của GS không lên tiếng thì những bài báo như vậy là "lợi bất cập hại" tạo điều kiện cho kẻ xấu kiếm tiền trên nỗi bất hạnh của bệnh nhân.

Quả đúng là ai chết đuối mà không vớ cọc? Nhưng e rằng những cái cọc mục hoặc cọc không có chân rất nguy hiểm! Vậy nên chăng các bác sĩ và ngành y, dù muộn, hãy một lần làm rõ trường hợp ca bệnh của GS chứ không chỉ để một số  nhà báo viết nhăng viết cuội về một vấn đề mà họ không thực sự hiểu biết. Tại sao các bác sĩ trực tiếp khám và làm các biện pháp can thiệp không nói gì mà để ông lương y Nho không có giấy phép hành nghề lên tiếng? Nội dung các bài báo đều rất sơ sài, với những thông tin không chính xác, thiếu nhất quán, ví dụ không rõ khối u trong gan hay chỉ là khối tụ máu trong tĩnh mạch;  lúc nói là "nút tĩnh mạch", lúc nói "nút động mạch"- vốn là những thủ thuật có bản chất và  mục đích hoàn toàn khác nhau, v.v... Đoạn trích ý kiến của lương y Nho nghe như một sự "thỏa hiệp" hiếm hoi giữa Tây Y và Đông Y vì mục đích nào đó (?).


Tóm lại, đây là một chủ đề phức tạp không thể trình bày hết ở đây. Tôi chỉ muốn nêu lên một vấn nạn mà trách nhiệm chính thuộc về nhưỡng người làm công tác quản lý ngành y. Với một "căn bệnh thế kỷ" mà VN là nước đóng góp lớn nhất (theo một số thông kê tôi đọc được) nhưng rất hiếm thấy hình thức trao đổi công khai minh bạch nhằm rút kinh nghiệm từ thực tiễn giữa bệnh nhân và bác sĩ (mà chỉ toàn thấy cảnh "xin-cho", "khôn thì sống, mống thì chết" và "sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi"...). Điều này buộc người mắc bệnh ung thư ở VN luôn ở vào thế bị động, rất dễ dao động và mắc sai lầm trước các loại lừa đảo, chỉ có lợi cho những kẻ "làm tiền".  Đó cũng là một trong những lý do tại sao người bệnh VN dù rất nghèo vẫn phải tìm đường ra nước ngoài chữa trị.

Nhân đây cũng không thể không nói đến khâu quản lý thông tin trong các lĩnh vực liên quan đến chính trị-xã hội. Gần đây nhất có vụ bệnh tình của ông Nguyễn Bá Thanh mà xem ra chỉ vì thiếu  nguồn tin công khai minh bạch nên tin đồn thi nhau loan truyền không biết đâu là thật /hư. Điều lạ lẫm nhất là sau từng ấy thời gian và tin đồn, và mặc dù đã có tin chính thức của Ban sức khỏe TW nói ông Thanh đã trở về điều trị tại bênh viện Ung thư Đà Nẵng, có cả tin và ảnh một số lãnh đạo cấp cao đến thăm....,  nhưng tuyệt nhiên không có hình ảnh nào có mặt bệnh nhân. Dư luận không khỏi thắc mắc có gì khúc mắc với trường hợp ông Thanh ?, ngay cả Tướng Giáp trước đây nằm viện thở ô xi chờ chết mà vẫn thường có ảnh đưa công khai trên báo chí và TV cơ mà.  

Và điều này khiến mối hoài nghi trong dân chúng lại càng tăng lên như một quy luật tự nhiên. Nếu đặt câu hỏi tình trạng bưng bít thông tin này có lợi cho ai thì sẽ thấy ai đã cố tình gây ra nó.Thay vì công khai minh bạch thông tin về ông Nguyễn Bá Thanh (dĩ nhiên với mức độ mà nhà chức trách có quyền lựa chọn) thì người ta lại chọn cách đưa tin nửa vời theo kiểu "1/2 sự thật chưa phải là sự thật". Mặc khác nhà chức trách lại đổ lỗi cho  "các thế lực thù địch" vô hình rồi áp đặt những biện pháp cấm đoán trái với tinh thần tự do thông tin đã được quy định trong Hiến pháp và luật lệ hiện hành. Cách làm này đúng là "lợi bất cập hại", nếu không phải là dụng ý của một thế lực ngầm nào đó trong hệ thống công quyền. Dù là gì thì đó là cách quản lý thông tin đã lỗi thời cần được thay đổi để mở đường cho đất nước tiến lên.        

    

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Chuyện bà “Hoa Trung Quốc” và bà “Hoa Việt Nam”

Bùi HOàng Tám /Dân trí, 28/1/2015  - Bà “Hoa Trung Quốc” đây là gọi bà Hoa Xuân Oánh – người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bà “Hoa Việt Nam” là bà Huỳnh Thị Như Hoa, một ngư dân Việt Nam.

 >>  Trung Quốc xây bãi đáp trực thăng quy mô lớn gần Senkaku/Điếu Ngư
 >>  Trung Quốc ồ ạt xây dựng ở Trường Sa: Bước đi nguy hiểm độc chiếm Biển Đông
 >>  Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh: 2015 sẽ tập trung làm rõ tình hình Biển Đông
 >> Sự ngạo mạn của Trung Quốc đã lên tột đỉnh

Chuyện bà “Hoa Trung Quốc” và bà “Hoa Việt Nam”

Theo báo Lao động ngày 23/1/2015, bài “Trung Quốc: Các nước nhỏ không nên đưa ra những yêu cầu vô lý”cho biết đáp lại sự chỉ trích của Mỹ và Philippines về việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng trên Biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã có những tuyên bố phủ nhận trắng trợn và đổ lỗi trịch thượng.

“Trung Quốc luôn luôn cho rằng, tất cả các nước, bất kể lớn nhỏ, đều là bình đẳng. Chúng tôi phản đối việc nước nhỏ bị bắt nạt bởi nước lớn” – bà Hoa phát biểu trong cuộc họp báo ngày 22.1.
Tuy nhiên, một cách trịch thượng và vô lý, bà nói thêm: “Đồng thời, chúng tôi tin rằng các nước nhỏ không nên đưa ra những yêu cầu không hợp lý”. Bài báo viết.
Đúng là trắng trợn và trịch thượng. Trắng trợn bởi từng nhiều lần dùng vũ lực để cướp đảo của “nước nhỏ” Việt Nam, từng có vô số lần cậy thế nước lớn gây hấn trên biển, từng lớn tiếng “đe dọa” rằng Trung Quốc là một nước lớn… Và ngay tại thời điểm này, tờ Rappler của Philippines hôm 22.1 vừa công bố những bức ảnh cải tạo đất đai của Trung Quốc trên đảo Chữ thập ở Trường Sa (Việt Nam) cho tới tháng 12.2014.
Thế nhưng vẫn lại tráo trở “phản đối việc nước nhỏ bị bắt nạt bởi nước lớn”. Không chỉ thế, còn với giọng trịch thượng “các nước nhỏ không nên đưa ra những yêu cầu không hợp lý”.
Xin hỏi bà “Hoa Trung Quốc” thế nào là “yêu cầu không hợp lý”? Phải chăng đánh cá trên vùng biển của quốc gia mình, khai thác tài nguyên trên lãnh thổ Tổ quốc mình và đòi chủ quyền đất đai từng bị dùng vũ lực cướp mất là “không hợp lý”? Phải chăng cam chịu nhẫn nhục để họ đánh cá trên biển nhà mình, đánh đập ngư dân mình, khai thác tài nguyên trên đất của mình, “lấy nhà người khác làm nhà mình” thì mới là hợp lý?
Thưa bà “Hoa Trung Quốc”, không và ngàn lần không có chuyện đó được bởi chúng tôi cũng có một bà “Hoa Việt Nam”.
Đó là bà Huỳnh Thị Như Hoa, chủ của tàu cá nổi tiếng ĐNA 90152 từng bị tàu Trung Quốc đâm chìm vào ngày 26.5.2014. Sau khi bị đâm chìm, dù thiệt hại rất lớn nhưng bà Hoa của chúng tôi vẫn quyết định kéo con tàu 90152 về đất liền để chứng minh hành vi gây hấn và hành động vô nhân đạo của phía Trung Quốc với ngư dân Việt Nam.
Bà “Hoa Việt Nam” còn quyết định đóng một con tàu mới mang số hiệu90657 to hơn, hiện đại hơn tàu 90152 nhiều lần. Mục đích không chỉ để đánh cá mà còn khẳng định ý chí sắt đá của ngư dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ vùng biển ngàn đời của cha ông để lại và không bao giờ khuất phục trước mọi thế lực dù hung hãn đến đâu.
Cũng xin thưa với bà “Hoa Trung Quốc”, bà “Hoa Việt Nam” đang tiếp tục kiện phía Trung Quốc vì đã đâm hỏng con tàu 90152 với quyết tâm “Dù biết rất khó khăn nhưng tôi sẽ đi đến tận chân trời góc bể để kiện cho được” như lời bà nói.
Khâm phục trước ý chí của ngư dân ta nói chung, bà Hoa Việt Nam nói riêng, tại buổi lễ hạ thủy con tàu mới mang số hiệu 90657, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Phùng Tấn Viết đã khẳng định: “Đây không chỉ là hạ thủy một con tàu ra đánh cá ở Hoàng Sa, mà còn là hạ thủy con tàu mang ý chí sắt đá của ngư dân nói riêng và cả người dân Việt Nam ra Hoàng Sa. Cũng như nhiều tàu cá khác, con tàu này mang sứ mệnh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ra Hoàng Sa”.
Vâng. Nếu bà “Hoa Trung Quốc” trịch thượng, trắng trợn và hung hăng như núi lửa thì bà “Hoa Việt Nam” của chúng ta kiên cường, quả cảm và dữ dội như biển khơi.
Lửa không “thiêu” nổi nước nhưng nước thì dễ dàng dập tắt bất cứ ngọn lửa nào dù hung hãn đến đâu, phải không các bạn?Bùi Hoàng Tám

Thứ Tư, ngày 21 tháng 1 năm 2015

Điều gì đang chờ đợi Việt Nam trên Biển Đông năm 2015?


Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Hình minh họa.

Ngày 16/1 tờ The Diplomat đăng bài phân tích của Khang Vu, một nhà phân tích quan hệ quốc tế từ New London, New Hampshire, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam có thể tận dụng các mối quan hệ với các nước TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam năm 2015 là một mớ hỗn độn, phức tạp, chủ yếu là do căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông.

Kể từ khi xảy ra vụ giàn khoan 981 (Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam), Việt Nam đã hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc theo đuổi các mối quan hệ đa dạng hơn với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là Nhật Bản, Philippines, Hoa Kỳ. Với yếu sách chủ quyền (vô lý, phi pháp) của Trung Quốc với gần như toàn bộ Biển Đông và ý chí mạnh mẽ xoay trục chiến lược sang châu Á của Hoa Kỳ, năm 2015 mở ra cho ngoại giao Việt Nam cả cơ hội lẫn thách thức.

Về cơ bản Mỹ sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam do những lợi ích chung cũng như các mối đe dọa từ Trung Quốc. Kể từ khi Washington công bố nới lỏng lệnh cấm vũ khí sát thương với Việt Nam từ tháng 10 năm ngoái, Việt Nam đã đa dạng hóa hệ thống vũ khí của mình sau nhiều năm phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung từ Nga. Năm 2015 Việt Nam sẽ cần tìm ra những loại vũ khí phù hợp nhất với việc đối phó với các thách thức ở Biển Đông và làm thế nào tích hợp hiệu quả với hệ thống vũ khí Nga.

Với những vũ khí Mỹ mà Việt Nam có được, hai nước có thể dễ dàng tiến hành tập trận chung, tăng khả năng Hoa Kỳ có thể truy cập vào các căn cứ hải quân chiến lược của Việt Nam và xây dựng lòng tin giữa hải quân hai nước. Ngoài ra chiến thắng của Thủ tướng Shinzo Abe tại Nhật Bản và những đổi mới trong Hiệp định quốc phòng nâng cao Mỹ - Philippines cũng đã tạo ra mộ nền tảng vững chắc cho sự hợp tác giữa Nhật Bản, Philippines và Việt Nam, đồng thời đảm bảo cho Mỹ có thể vận hành "trục" trơn tru trong khu vực.

Trong năm 2015, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ bước vào giai đoạn cuối cùng của tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, một hiệp ước kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng và độc lập của nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc, Việt Nam đã nhập siêu gần 24 tỉ USD năm 2013. Điều này có thể là một điểm yếu cho Việt Nam trong bất kỳ cuộc đàm phán nào với Trung Quốc trong tương lai.
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam vẫn tuần tra vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam bất chấp đe dọa, uy hiếp từ tàu Trung Quốc trong vụ giàn khoan 981.

Tuy nhiên Hoa Kỳ luôn muốn có một mối quan hệ ổn định, mạnh mẽ và độc lập với Việt Nam để đối phó với (sự bành trướng sức mạnh) của Trung Quốc, và để duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực. Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam trong đàm phán hiệp định này, miễn là Việt Nam có thể đáp ứng một số yêu cầu của Mỹ. Tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam thoát khỏi phạm vi ảnh hưởng về kinh tế của Trung Quốc vì hiệp đinh đòi hỏi về nguồn gốc của các sản phẩm đến từ một quốc gia thành viên TPP. Việt Nam có thể không hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc để sản xuất nó, có nghĩa là thành công của các cuộc đàm phán TPP sẽ chỉ ra chính sách (kinh tế) của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Về tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã thay đổi chiến lược đối với Việt Nam một cách tích cực hơn chủ yếu là vì sợ gặp phải sự kháng cự của Việt Nam, quốc gia vốn đã tạo dựng được quan hệ chặt chẽ với Nhật Bản, Philippines và Hoa Kỳ. Trong 6 tháng cuối năm 2014, Trung Quốc đã 3 lần phái quan chức cấp cao đến Việt Nam để thảo luận về các tranh chấp với những giai điệu trở nên thân thiện hơn sau mỗi lần gặp gỡ, đặc biệt là chuyến thăm của ông Du Chính Thanh, ủy viên Thường vụ Bộ chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Chính hiệp trung ương.

Tuy nhiên điều quan trọng cần lưu ý rằng, Trung Quốc không có khả năng từ bỏ tham vọng bành trướng lãnh thổ, và Trung Quốc có thể sử dụng chính sách mới này như một cách hoãn binh cho đến khi họ đủ mạnh để giải quyết vấn đề Biển Đông theo cách riêng của họ. Việt Nam sẽ phải đưa ra một chiến lược linh hoạt để đối phó với một Trung Quốc không thể đoán trước, Khang Vu bình luận.

Trong năm 2015 Tòa án Trọng tài thường trực (PCA) tại The Hague sẽ ra phán quyết về vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc (áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982) ở Biển Đông, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các nước ven Biển Đông trong đó có Manila. Một phán quyết như vậy có thể có một tác động mạnh mẽ tới ngoại giao của các nước trong khu vực. Gần đây Việt Nam đã lên tiếng đề nghị tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông, tuy nhiên Trung Quốc vẫn tiếp tục phủ nhận vai trò của tòa án.

Nếu Trung Quốc tiếp tục xây dựng các hòn đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế, một cuộc xung đột với Việt Nam hay Philippines có thể nổ ra bất cứ lúc nào, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Mối quan hệ gần gũi hơn với Nhật Bản, Philippines và Hoa Kỳ là quan trọng, và một mức độ cảnh giác với Trung Quốc đã được chứng minh là cần thiết mặc dù Việt Nam không thể bỏ mối quan hệ với nước láng giềng này./.
.
Hồng Thủy
Báo GDVN 17/01/15 

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

QUAN HỆ VIỆT-TRUNG ĐÃ HẾT THỜI TRIỀU CỐNG (*)

Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Có thể nói quan hệ Việt-Trung là một trong những cặp quan hệ chứa đựng đầy đủ đặc điểm của loại hình quan hệ giữa các quốc gia dân tộc từ thời thượng cổ đến thời hiện đại, đặc biệt là quá trình đấu tranh sinh tồn của một nước nhỏ trước họa bành trướng của một nước lớn cận kề. Điều này được minh chứng rõ ràng trong cả quá trình lịch sử lâu đời từ thời tiền sử đến ngày nay. Có số liệu tổng kết rằng kể từ khi thoát khỏi ánh đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc Việt Nam đã hứng chịu không dưới 12 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc (chưa kể cuộc chiến tranh biên giới 1979). Lịch sử cho thấy ngay từ thời nhà Hạ bên Trung Quốc tương đương thời vua truyền thuyết Kinh Dương Vương của Việt Nam tức quảng cuối Thiên niên kỷ thứ 3 trước CN, Hán tộc từ phía Bắc đã lấn chiếm lãnh địa của Việt tộc ở phía Nam sông Dương Tử. Đến thời các triều đại An Dương Vương, Triệu Việt Vương (Triệu Đà) và Hai Bà Trưng kéo dài quảng 300 năm trước và sau CN tuy được coi là thời kỳ quật khởi của người Việt nhưng cuối cùng vẫn bị Hán tộc dồn đẩy về phía Nam. Tiếp đến là thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà qua đó tộc Lạc Việt không chỉ bị dồn đẩy đến tận cùng phía Nam mà còn đứng trước nguy cơ bị đồng hóa hoàn toàn như nhiều tộc Việt anh em của họ bên Trung Quốc. 


May thay nguy cơ này đã được cứu vãn qua hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của người Việt bản địa kết hợp với những người gốc gác Bách Việt hội tụ về đây để chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và thiết lập lại nền độc lập tự chủ với bản sắc Việt tộc của mình. Nền độc lập này được khẳng định vào năm 1077 với bài hịch nổi tiếng của Vua Lý Thường Kiệt: 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư, 
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, 
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. 

Cũng hoàn toàn không phải vô cớ mà Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh năm 1792 đã rắp tâm lấy lại vùng lãnh thổ Lưỡng Quảng nhưng không may lâm bạo bệnh qua đời chưa thực hiện được. Điều này cho thấy ý thức về nguồn cội dân tộc và lãnh thổ vẫn luôn còn đó trong tâm thức người Việt. 

Bàn về sự thật lịch sử quan hệ Hán-Việt, một học giả Trung Quốc tên là  Le Oa Đằng mới đây có bài viết cho rằng Việt Nam là hậu duệ, là đại diện của người Bách Việt. Trong bài viết, ông cũng cho rằng người Việt Nam là chủ nhân đích thực của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chứ không phải như tài liệu tuyên truyền của Bắc Kinh rêu rao). 

Thực tế cũng cho thấy hoàn toàn không đơn giản như một số người vẫn còn ảo tưởng rằng Trung Quốc dưới chế độ cộng sản và XHCN không còn bản chất xâm lược bành trướng! Nói cách khác, không có một phép màu nhiệm nào có thể làm thay đổi bản chất và cục diện quan hệ giữa hai cựu thù mà trong đó nước lớn Trung Quốc luôn lăm le xâm lược và thôn tính nước nhỏ Việt Nam. Mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy, dù chưa thể thôn tính và đồng hóa được Việt Nam, nhưng các thế lực bành trướng Đại Hán đã và đang khá thành công trong thủ đoạn kìm hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của chúng để dễ bề tiếp tục lấn chiếm và bành trướng lãnh thổ về phía Nam.

Chuyển hướng bành trướng từ đất liền ra biển 

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, mọi quốc gia đều tồn tại trong sự tùy thuộc lẫn nhau một cách cao độ khiến cho việc mang quân xâm lược một cách công khai trắng trợn đối với một quốc gia khác không phải là giải pháp khôn ngoan nếu không nói là không thể thành công. Điều này giới lãnh đạo Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rằng niềm tự hào là Vương quốc ở "giữa thiên hạ" (Middle Kingdom) nay lại ở vào thế bị kẹt giữa thiên hạ, và do đó nung nấu tham vọng mở rộng không gian phát triển ra phía đại dương là hướng mà ông cha họ chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu như các triều đại Vương Triều xưa chỉ biết mở rộng bờ cõi bằng cách lấn chiếm đất đai của các nước kế cận, thì giới lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đã biết coi trong vai trò của biển và đại dương. Và đó là nguyên nhân khiến họ thay đổi hướng xâm lược bành trướng bằng cách lấn chiếm biển đảo của các nước ven  Biển Hoa Đông và Biển Đông, xa hơn sẽ là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, không loại trừ Nam Cực. 
Sơ đồ về phạm vi đòi hỏi chủ quyền của các nước tại Biển Đông 

Tất nhiên để thực hiện hướng bành trướng phi truyền thống này, Bắc Kinh phải tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng theo phương châm "ẩn mình chờ thời" của cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đề ra, bởi lẽ các vùng biển này đều đã có chủ; chỉ còn cách làm sao để "biến không thành có". Và Bắc Kinh chỉ còn cách là xâm chiếm biển đảo của các nước khác cũng như một số vùng biển thuộc hải phận quốc tế.

Để thực hiện âm mưu đó, suốt 70 năm nay giới lãnh đạo Bắc Kinh đã và đang kiên trì bằng mọi thủ đoạn, khi thì giả vờ hữu hảo, khi thì trở mặt gây sức ép quân sự, chính trị, kinh tế đối với Việt Nam. Thời điểm họ lựa chọn đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974, rồi đánh chiếm một số bãi đá ở Trường Sa đầu 1988 cho thấy chiến thuật đó. Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào khoan thăm dò dầu khí sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 6/2014 đồng thời với chiến dịch "đảo hóa" tại một số bãi ngầm giữa Biển Đông đều nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm Biển Đông, trong đó mục tiêu chính là thiết lập những "cột mốc chủ quyền" mới của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Thay đổi chiến thuật và hướng bành trướng là việc của Trung Quốc. Nhưng có điều trớ trêu là, sự thay đổi hướng bành trướng ra biển như nói trên lại một lần nữa đặt Việt Nam vào thế đối đầu trực diện với Trung Quốc, đơn giản vì Việt Nam là nước có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam và cũng là chủ nhân của 2 quần đảo ngoài khơi Biển Đông án ngữ trên con đường bành trướng của "Vương Triều mới". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đe dọa Việt Nam mà còn đe dọa lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông khác cũng như toàn bộ khu vực ASEAN và thế giới, đặc biệt các cường quốc hàng hải  như Nhật, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, v.v...  Sự độc chiếm của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này đồng nghĩa với việc quốc tế  mất quyền đi lại tự do trên Biển Đông và điều này là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nhưng chúng đều nằm trong vùng biển quốc tế và do đó vai trò bảo vệ còn phụ thuộc vào quốc tế . Chính vì lý do này, để tránh sức ép quốc tế, Bắc Kinh luôn một mực khước từ việc "quốc tế hóa" đối với mọi tranh chấp ở Biển Đông đồng thời ra sức chia rẽ nội bộ ASEAN để cô lập Việt Nam.   

Với cục diện đã hoàn toàn thay đổi trên thế giới ngày nay khi mà mọi hành động gây hấn của một quốc gia đều có thể nhanh chóng biết đến trên quy mô toàn cầu. Thế giới đã lập ra nhiều tổ chức quốc tế với rất nhiều thiết chế luật lệ để điều phối các mối quan hệ giữa các quốc gia. Mặc khác, với trình độ giao thông liên lạc vô cùng nhanh nhạy, với các mối quan hệ trao đổi kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng vô cùng đa dạng, đa năng ngày nay thì quảng cách không còn là vấn đề lớn trong khái niệm lựa chọn đối tác, bạn-thù và đồng minh. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới của thế giới ngày nay, một nước lớn nếu có ý đồ khống chế hay "bắt nạt" một nước nhỏ quả là không dễ dàng và đơn giản như trong quá khứ. Bài học của Mỹ tại Trung Đông và Nga tại Ucraina hiện nay cho thấy điều này. Và Trung Quốc sẽ không phải là ngoại lệ. 

Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ

Như đã nói trên đây, chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn đó nhưng hướng và biện pháp đã có những thay đổi cơ bản. Xưa kia Trung Quốc chỉ bành trướng trên bộ, nay bành trướng ra hướng biển và đại dương. Trước đây mỗi khi các triều đại Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, dù thắng hay thua, thế giới có thể không biết hoặc biết khi đã quá muộn. Vào thời đó hầu như chưa có khái niệm về sự can thiệp giúp đỡ từ quốc tế.  Trong hoàn cảnh đó Việt Nam không có cách nào khác là phải tự mình tìm cách thích ứng để tồn tại bên cạnh Vương Triều. Đó là lý do của sự ra đời sách lược mềm dẻo khôn khéo và thái độ nín nhịn "tránh voi chẳng xấu mặt nào", kể cả việc phải "triều cống" bằng lễ vật đối với kẻ thù ngay cả sau khi đã đánh bại chúng. Và sách lược đó đã cho thấy hiệu quả trong suốt hàng trăm năm trước đây và đã trở thành nếp nghĩ và là ưu tiên lựa chọn đối với  người Việt Nam trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.  


Tiếp đến trong 70 năm qua sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp người Việt Nam lại sa vào một cái bẩy mới của Trung Quốc-đó là khái niệm "tương đồng về ý thức hệ" giữa hai nước cùng theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Về mặt này, người Việt Nam tỏ ra trung thành hơn cả người Trung Quốc, biểu hiện ở chỗ là, trong khi Trung Quốc liên tục "đổi màu" bằng những bước đi dài với phương châm "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột" thì người Việt Nam chỉ dừng lại ở khái niệm "đổi mới" chung chung một cách dè dặt. Sau bao phen bị "ông anh" cùng ý thức hệ phản bội bằng những cuộc chiến tranh nóng cùng với các thủ đoạn phá hoại ngầm về kinh tế-chính trị-xã hội khiến Việt Nam phải điêu đứng, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn còn hy vọng vào những lời hứa hão huyền "4 tốt", "16 chữ vàng", "lấy đại cục làm trọng", "anh em tốt, láng giềng tốt" v.v...

Lẽ ra khi Trung Quốc thay đổi phương thức và địa bàn bành trướng thì Việt Nam cũng phải thay đổi phương thức đấu tranh, trước hết không việc gì phải quá lo sợ về một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc; điều đáng lo hơn là âm mưu của Bắc Kinh một mặt kìm giữ VN trong vòng cương tỏa của họ, một mặt chia rẽ nội bộ Việt Nam và chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là thủ đoạn mà Bắc Kinh ráo riết áp dụng từ thời đảng Cộng sản lên nắm quyền và đã khá thành công trong những năm gần đây khi họ nhiều lần "trùm chăn đánh Việt Nam" mà thế giới không biết hoặc chỉ biết khi sự đã rồi. Đó là trường hợp cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc đến các cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở Hoàng Sa, Trường Sa, tất cả đều diễn ra tay đôi giữa hai nước cộng sản anh em. Sự kiện giàn khoan HD 981 lúc đầu cũng đã bị ém nhẹm; nếu không được công luận lên tiếng qua mạng internet thì chắc sự im lặng đó còn kéo dài hơn và hậu quả có thể đã xấu hơn. E rằng việc Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng căn cứ quân sự tại các bãi đá giữa Biển Đông đang có nguy cơ rơi vào yên lặng và trở thành "sự đã rồi " như các đợt lấn chiếm trước đó. Cho đến nay Trung Quốc chưa trả lại và cũng không có ý định trả lại những phần lãnh thổ biển đảo đã lấn chiếm của Việt Nam.        

Phải chăng bài học đối với Việt Nam ngày nay là không nên ngần ngại hoặc nín nhịn quá mức mà phải thể hiện thái độ công khai dứt khoát đối với mọi vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, theo tinh thần luật pháp quốc tế bất luận Bắc Kinh có bằng lòng hay không. Đồng thời đường lối "sẵn sàng làm bạn với tất cả" cần được thể hiện một cách cụ thể qua việc tăng cường quan hệ với các nước thứ ba như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v... coi đó là nhân tố cần thiết để ứng phó với Trung Quốc trong những tình huống xấu nhất. Vẫn biết quan hệ với Trung Quốc là quan trọng và cần được ưu tiên giữ gìn, nhưng để tránh chiến tranh với Trung Quốc cách tốt nhất là tiến hành các biện pháp răn đe phòng ngừa từ trước, chứ không phải chỉ có nín nhịn cho đến khi nó xảy ra. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông. Và Việt Nam chỉ có thể bảo vệ mình với sự hỗ trợ của tập thể ASEAN và cộng đồng quốc tế. Ngược lại, ASEAN và quốc tế cần Việt Nam để bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Đó có lẽ là cách tiếp cận thực tế và hiệu quả nhất đối với Việt Nam trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới ngày nay. 
(*) Tiêu đề do tác giả thay đổi.  

Thứ Tư, ngày 14 tháng 1 năm 2015

Thư mở kính gởi Hội Nghị BCHTW 10 (của cụ Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn nội dung do người viết thư gửi đăng trên  BVN

Tôi gởi lời kính chúc các Đại biểu khỏe mạnh, minh mẫn để bàn những công việc trọng đại của Đất nước và của Đảng CSVN.

Tôi dùng chữ thư mở để chỉ sự công khai, minh bạch, trong sáng, không giấu giếm, che đậy.
Trước hết, tôi xin dẫn câu nói của A.Einstein: “Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải hôm nay, sẽ không thể nào giải quyết được ở trình độ tư duy mà trước đây chúng ta tạo ra chúng”. Tôi nghĩ rằng đây là phương pháp luận làm tiền đề cho việc suy nghĩ, trước hết là tìm cho ra những tư duy mới. Ai cũng biết đổi mới phải bắt đầu bằng tư duy mới.

Thứ Bảy, ngày 03 tháng 1 năm 2015

Tư liệu: 10 phát biểu đáng chú ý trong năm 2014(*)

(*) Dưới đây là 10 câu phát biểu của các vị lãnh đạo cao cấp của VN trong trong năm 2014 (có kèm theo nguồn trích dẫn). Những phát biểu này được đưa ra trong những dịp khác nhau từ cấp cao nhất đến các cấp thấp hơn, về các chủ đề khác nhau qua đó phản ánh đúng thực chất tình hình kinh tế-chính trị-xã hội của đất nước mà có lẽ không được đề cập trong mọi văn kiện chính thức của Đảng và  Nhà nước. Và do đó thiện nghĩ, những phát biểu này có giá trị đặc biệt miễn là chúng được hiểu với tinh thần nghiêm túc tôn trọng sự thật khách quan không định kiến, không ngụy biện cũng bóp méo xuyên tạc.

Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2014

Nguyên PTT Vũ Khoan: Việt Nam không phải là nước nhược tiểu

- “Chúng ta phải tự tin rằng chúng ta có sức mạnh, cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Việt Nam không phải là một nước nhược tiểu” – nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhấn mạnh.
VietNamNet giới thiệu kỳ 1 cuộc đối thoại trực tuyến: Dấu ấn đối ngoại Việt Nam 2014 và kỳ vọng 2015 với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan do VietNamNet và báo Thế giới và Việt Nam phối hợp tổ chức. Dẫn chương trình là nhà báo Việt Lâm (báo VietNamNet) và nhà báo Minh Nguyệt (Phó Tổng biên tập báo Thế giới & Việt Nam).

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này