Thứ Ba, ngày 09 tháng 6 năm 2015

Bàn về dân trí (*)

(*) Trong quá trình thảo luận  tại QH mới đây có ông Nghi đã nói nhiệu về chủ đề dân trí khiến công luận cực kỳ xôn xao bức xúc. Để bạn đọc tiện tham khảo chủ blog Bách Việt tôi đăng lại 2 bài viết của hai tác giả khác nhau cùng một chủ đề dưới đây (được xếp lại theo ngày viết bài).

                                        Bài thứ nhất: Câu chuyện về Dân trí 

Tác giả: Nguyễn Quang Dy (*)

Người ta nói dân trí là yếu tố sống còn đối với vận mệnh của một quốc gia. Nhưng hiểu về dân trí như thế nào thì chắc vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng dân trí ở Viêt Nam cao, trong khi “quan trí” lại thấp, cần phải nâng cao. Nhưng từ xưa đến nay (từ thời cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh), người ta thường kêu gọi “nâng cao dân trí”. Có lẽ người ta muốn đề cập đến cùng một vấn đề. Nói cách khác, “dân nào thì quan nấy”.

Hãy điểm qua 10 hình ảnh hài hước và độc đáo “chỉ có tại Việt Nam” để xem dân trí đang ở đâu,và vì sao có thể (hay không thể) thay đổi được. (Tất nhiên các bạn có thể bổ xung thêm). Tuy hình ảnh chỉ là bề nổi của tảng băng chìm, nhưng nó là một tiêu chí quan trọng. Những người cầm quyền hay nói “lấy dân làm gốc”, vậy làm thế nào thay đổi được cái ngọn bị sâu bệnh, nếucái gốc cũng yếu kém và khó thay đổi? 

1. Cái cột điện 


Bill Gates hay khách quốc tế nào đến Việt Nan đều ấn tượng bởi “cái cột điện” như một hình ảnhđộc đáo khó quên. Đó là một đống dây điện lằng nhằng cuộn vào nhau như cái mạng nhện khổnglồ, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật đường phố mà không một nghệ sĩ sắp đặt nào có thể làmnổi. Tác phẩm này có mặt khắp nơi, từ các đường phố lớn sang trọng đến các ngõ hẻm tồi tàn. 

Không biết nó xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã tồn tại qua thời gian như một phần của nền vănminh đô thị (theo “định hướng XHCN”). Có người nói đó là hình ảnh của Hà Nội, những ngườikhác thì cho rằng đó là hình ảnh của EVN (tập đoàn điện lực VN). EVN vừa được hưởng ngânsách, vừa độc quyền tăng giá điện tùy ý (như một nhóm lợi ích) mà chẳng cần đầu tư vào hạtầng. Vậy tiền chạy đi đâu? Dù sao, cái tác phẩm nghệ thuật này (biểu tượng cho dân trí) đángđược đưa vào “Guinness Book” về những kỷ lục tồi tệ nhất. 

2. Cái loa phường 


Có lẽ Bill Gates chưa có dịp thưởng thức cái loa phường để đánh giá. Nó dễ dàng đánh bại cáicột điện để chiếm vị trí số một nếu xếp hạng. Nó cũng hiện diện khắp nơi, nhưng không câm lặng như cái cột điện. Từ sáng sớm đến tối, nó oang oang lặp đi lặp lại mấy nội dung nhàm chán. 

Ngay cả khi ta ngủ, hay sang tận Paris hoặc London, trong tai vẫn văng vẳng tiếng loa phường.Thật khó lòng thoát khỏi nó, ngay cả trong tâm thức. Tại sao người ta bỏ được sổ gạo và temphiếu, mà lại không bỏ được cái loa phường điên rồ này? Có lẽ vì nó là công cụ kiểm soát vănhóa tư tưởng, nên tồn tại cùng với chế độ. Chúng ta lớn lên với nó, quen thuộc và chấp nhận nó,nên nó đã đi vào tiềm thức và dân trí, ngay cả khi ta sống cũng như chết. Có lẽ nhạc sỹ Văn Cao,dù đã ở thế giới bên kia, cũng không thể quên được cái thứ “khủng bố mềm” bằng âm thanh này(như có người đặt tên). Tác giả của bài Quốc Ca đã phải chịu đựng cái loa phường chõ vào cănphòng mình như để tra tấn trong suốt cuộc đời còn lại, cho đến khi nhắm mắt.

3. Giao thông nguy hiểm 


Đối với những người nước ngoài nào mới đến Việt Nam lần đầu thì có lẽ điều đáng sợ nhất trongđời là phải vượt qua đường phố, nơi xe cộ đi lại hỗn loạn, không ai tránh ai. Nó giống như cảnhbạo lực chỉ thấy trong phim hành động. Nó còn nguy hiểm hơn cả cái cột điện và cái loa phường. 
Huffington Post coi giao thông ở Việt Nam là “nơi nguy hiểm nhất”, còn CBS News thì ví giaothông ở đây như “địa ngục”, và BBC cho rằng nó còn nguy hiểm hơn cả đại dịch AIDS. Bộ Y tếVN thông báo trong 7 ngày nghỉ Tết năm 2015 có 246 người chết do tai nạn giao thông. Còn bộtrưởng Giao thông VN gọi đó là “quốc nạn” vì mỗi năm có gần 12.000 người chết và 9.300người bị thương, có thể so sánh với con số thương vong do thảm họa sóng thần ở Nhật Bản. 
Nhưng đối với những người Việt đã quen với chiến tranh và bạo lực thì giao thông hỗn loạn vàtắc đường là một phần của đời thường và dân trí. Người ta còn đùa “Hà Nội không vội đượcđâu!” Hình như người Việt có khiếu hài hước đặc biệt, thích đùa với cả tính mạng của mình. Cóngười còn lập luận tại sao lại phải sợ chết khi hàng ngày ta vẫn “sống trong sợ hãi” như trongphim “thập diện mai phục”. 

4. Đường phố ngập lụt


Khi mùa mưa đến, những đường phố lớn ở Hà Nội có thể biến thành những dòng sông nhỏ. Bạnkhông cần mất công đến tận Venice để thưởng ngoạn cảnh này. Chỉ cần sắm cho mình một cáithuyền nhỏ, thay vì cái xe máy vô tích sự trong nước lụt. Năm này qua năm khác, người Hà Nộinơm nớp vừa lo “mất nước” vừa lo “ngập lụt’, mà cả hai đều cùng một nguyên nhân. Nghe nóiđã có những khoản kinh phí lớn của các nhà tài trợ quốc tế và ngân sách quốc gia đầu tư để cảitạo hệ thống cấp thoát nước Hà Nội. Nhưng các khoản tiền này đã trôi theo dòng nước cống rasông ra biển (hoặc chui vào túi ai đó). Ách tắc không phải chỉ có giao thông, cấp thoát nước, hayhệ thống hành hành chính công, mà trên hết là ý thức hệ và dân trí. Vì vậy, muốn tháo gỡ ách tắc ngoài đường, phải tháo gỡ ách tắc trong đầu con người trước. 

5. Đái đường & vứt rác 


Tuy nhiên, chúng ta có một thói quen rất thông thoáng, đó là đái đường và vứt rác. Bạn có thểthấy cái biển “cấm đái bậy” khắp mọi nơi, nhưng nó không ngăn được người dân đái bậy. Người ta đái bậy và vứt rác khắp nơi, từ những góc phố cổ quanh Hồ Hoàn Kiếm, đến con đường đê dọc sông Hồng nơi có những bức tranh gốm hiện đại. Phải chăng dân ta uống nhiều bia hơi, nên đái nhiều hơn người khác? Phải chăng họ lâu nay phải “sống trong sợ hãi” nên hay vãi đái? Phảichăng đái bậy đã trở thành một phong cách sống? Hay chỉ vì họ không có đủ toilet? Dù đây có phải là một vấn đề quan trọng cần “tái cấu trúc” hay không, dù các “sở ban ngành” (như giaothông công chính hay văn hóa tư tưởng) đã làm được những gì, thì đái bậy và vứt rác vẫn đang hiện hữu như một hình ảnh “đặc thù” của văn hóa và dân trí VN. 

6. Ném đá & chửi đổng 


Không phải chỉ có đái bậy, mà hình như người Việt còn thích văn hóa ném đá và chửi đổng, đặc biệt là gần đây trên internet và thế giới mạng. Nhiều người cũng rất mê internet và truyền thôngkỹ thuật số nhưng rất ngại tham gia thế giới mạng, chỉ vì vấn đề này. Trên đó hoàn toàn tự do, kểcả ném đá. Không có luật lệ nào cả. Đó là bản chất của thế giới mạng. Có lẽ vì vậy mà tốc độphát triển internet và Facebook ở Viet Nam vào loại nhanh nhất thế giới, thậm chí có hại cho dântrí. Có mấy nguyên nhân chính. Người Việt vốn có truyền thống hay chửi nhau và cãi nhau (không ai chịu ai). Do bị kiểm duyệt quá nhiều và quá lâu nên họ không có thói quen tự do ngôn luận (một cách có văn hóa). Nay internet và truyền thông kỹ thuật số đã mở ra một xa lộ thôngtin mới cho tự do ngôn luận (mà không bị kiểm duyệt). Vì vậy, nó giống như “tháo cống” cho mọi thứ, kể cả gia bảo và rác rưởi, đều bị phơi bày. 
7. Học vẹt


Không có vấn đề nào bị công chúng phê phán nhiều như giáo dục. Nhưng càng cải cách, chất lượng giáo dục càng tụt hậu. Tại sao? Các chuyên gia nói là do học vẹt, làm triệt tiêu năng lựcsáng tạo và tư duy độc lập của học sinh. Giáo dục tụt hậu như vậy làm sao dân trí cao được? 
Human Development Indicators xếp Việt Nam đứng thứ 121/187, tức là dưới trung bình. Khôngcó một trường đại học nào của VN được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và cóchất lượng. International Property Rights Index xếp Việt Nam đứng thứ 108/130, tính theo giá trịtrí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ. Giáo dục bị tụt hậu thê thảm như vậy mà vẫn có nhân tài xuất hiện(như Ngô Bảo Châu). Đất nước bị tàn phá kinh người như vậy, thế mà vẫn còn cảnh đẹp (nhưhang Sơn Đòng). Nhưng Ngô Bảo Châu không phải là sản phẩm của giáo dục VN và Sơn Đòngkhông phải là sản phẩm của du lịch VN. Nếu tiếp tục định hướng XHCN như cũ thì đa số nhântài chắc sẽ bỏ đất nước và đa số khách du lịch chắc sẽ không quay lại VN. 
8. Lễ hội quá nhiều 
Gần đây có quá nhiều lễ hội ở Việt Nam, cũng như những hình ảnh phản cảm thiếu văn hóa và thậm chí đầy bạo lực trong các hoạt động này. Đây là hệ quả của căn bệnh “cờ đèn kèn trống”.Nó phản ánh tâm thức bất an của những người hơi bị cuồng tín và quá khích, cố giành bằng đượcmột vài biểu tượng văn hóa nào đó, mà không biết đó là dân trí thấp. Điều này có thể bị những kẻbất lương và tham nhũng trong chính quyền lợi dụng để “đục nươc béo cò”. Có rất nhiều kinhphí để chi cho những lễ hội tốn kém như vậy, và có nhiều đền chùa cổ kính vô giá đã bị phá bỏđể biến thành những “công trình văn hóa” mới toanh chẳng có giá trị gì về lịch sử. Có thể gọiđây là nạn tham nhũng về văn hóa.

9. Xây để phá 


Gần đây, ai đi qua đường Bưởi ở Hà Nội đều nhìn thấy một quang cảnh như thời chiến tranh (saumột trận ném bom), nhà cửa dọc phố bị phá hủy (để làm đường). Nó lặp lại hình ảnh nhiều nămvề trước khi nhà cửa dọc đường đê Yên Phụ (đông bắc Hà Nội) bị phá hủy (để bảo vệ đê), nghenói gây tổn thất trên 10 triệu USD, và làm cho cuộc sống nhiều gia đình điêu đứng. Trong thờichiến thì những việc này có thể hiểu được, nhưng thật khó hiểu tại sao hòa bình đã 40 năm rồimà tư duy thời chiến vẫn không hề thay đổi. Quy hoạch đô thị kiểu gì mà cứ cho xây rồi lại phá?

Hàng năm, Hà Nội vẫn đào vỉa hè và đường lên để lát lại và sửa đường ống, chẳng ai phối hợpvới ai, vừa tốn kém vừa bất ổn cho giao thông và cuộc sống con người. Căn bệnh này đã lây lantới thành phố Hồ Chí Minh, với những “lô cốt” mọc lên trên đường phố. Hình như người Việt thích xây để phá, chứ không phải để tồn tại. Kiểu dân trí lạ lùng này (theo “định hướng XHCN”)có thể biến “nền văn minh Sông Hồng” thành “nền văn minh Sông Tô Lịch” (một con sông nhỏtại Hà Nội đã bị chết vì ô nhiễm nặng nề).

10. Đốn hạ cây xanh 


Trong khi các vấn đề nan giải trên đây vẫn còn đó, thì gần đây Hà Nội đã có một quyết định “rấttáo bạo” là chặt bỏ 6700 cây xanh đã tồn tại hàng thế kỷ nay như “lá phổi” của thành phố và làhình ảnh hấp dẫn của Hà Nội. Cái quyết định ngu xuẩn và quái gở này đã vấp phải một làn sóngphản kháng của dư luận, buộc lãnh đạo thành phố phải nghĩ lại và nhân nhượng (sau khi vài trămcây xanh đã bị giết oan). Cực đoan và bạo lực không chỉ đe dọa con người, mà còn đe dọa thiên nhiên và môi trường sống. Hình ảnh phản cảm về Hà Nội chặt hạ cây xanh vô tội đã lan truyềnkhắp thế giới qua internet, trong khi bảo vệ môi trường để đối phó với thay đổi khí hậu đang trởthành vấn đề sống còn của loài người. Chẳng lẽ Hà Nội muốn quay về thời kỳ đồ đá, bằng cáchphá hủy nốt những gì chiến tranh chưa kịp phá hủy? 

Thay cho lời kết 
Không biết sau khi Hà Nội quyết định chặt 6700 cây xanh sẽ là sự kiện gì khác tiếp theo, nhưngvụ bê bối này đã đem lại một số bài học hữu ích. Một là, khi nào báo chí mạng “lề trái” và báochí “lề phải” cùng vào cuộc, phản ánh đồng thuận xã hội cao hơn, thì tiếng nói sẽ mạnh hơn. Hailà, khi nào dư luận trong nước và quốc tế cùng lên tiếng, thì sức ép sẽ hiệu quả hơn. Ba là, khinào chính quyền bị động, lúng túng đối phó với dân trí cao hơn, thì họ buộc phải lắng nghe vànhân nhượng, dù chỉ để gỡ thể diện. Tuy nhiên, chừng nào não trạng cực đoan và bạo lực còn ngự trị xã hội, thì mọi thứ đều có thể xảy ra. Nếu người dân không thoát khỏi nỗi sợ hãi, không nâng cao dân trí và năng lực, buộc chính quyền phải lắng nghe, thì sẽ không có gì thay đổi. Xét cho cùng, dân trí là nền tảng của xã hội công dân và sự chấn hưng của một quốc gia. 
(*) Nguyễn Quang Dy là một cán bộ Ngoại giao đã nghỉ hưu


                Bài thứ hai: Dân trí có hạn hay quan trí có vấn đề 

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn / Basam 05-06-2015

Cứ mỗi lần Quốc hội nhóm họp là người dân có dịp nghe những lời hay ý đẹp của các đại biểu, và năm nay cũng không phải là ngoại lệ. Chẳng hạn như trong cuộc thảo luận về trưng cầu dân ý một ông dân biểu Hà Nội nói rằng cần phải xem “lòng đảng” ra sao. Tôi đọc đi đọc lại mà không hiểu cái “lòng đảng” là cái gì mà cần phải xem xét. Mượn ý cụ Nguyễn Du, có ai lấy thước mà đo … lòng đảng được? Một ông khác thì nói “dân trí thấp, không thể tuỳ tiện trưng cầu” (1). Hi vọng là báo chí tường thuật đúng những gì ông nói. Ông là một quan chức trong Hội nhà báo, tức là thuộc nhóm có học, mà nói như thế thì quả là đáng ngạc nhiên.

Vì ngạc nhiên, nên tôi tò mò kiểm tra xem tình hình dân trí của ta như thế nào, và kết quả có lẽ sẽ làm bạn ngạc nhiên. Sau đây là vài số liệu chính dựa vào điều tra dân số năm 2009 (tức là hiện nay đã khá hơn) (2):
Gần 94% người dân biết đọc, biết viết;
Khoảng 1/4 người Việt xong trung học hay cao hơn;
Ở người trên 15 tuổi, 4.2% có bằng cử nhân và 0.2% có bằng sau đại học;

Việt Nam có hơn 100 ngàn thạc sĩ, 24 ngàn tiến sĩ, 10 ngàn giáo sư và phó giáo sư (3). Ngoài ra, chúng ta còn biết rằng Việt Nam có nhiều tướng lãnh có bằng tiến sĩ và học hàm giáo sư.

Niên học 2011-2012, Việt Nam có 215 trường cao đẳng, 204 trường đại học, với 756 ngàn học sinh cao đẳng và 1.4 triệu sinh viên đại học.

Nói chung, nhìn qua những con số trên, rất khó nói rằng dân trí Việt Nam còn thấp. Nếu nhìn vào con số giáo sư và tiến sĩ, Việt Nam còn cao hơn cả Thái Lan (vốn chỉ có 5414 phó giáo sư và 708 giáo sư).

Ở VN có một nghịch lí rất đáng chú ý. Khi nói về thành tựu giáo dục thì các quan chức thích nói rằng nền giáo dục ưu việt đã thành công xoá mù chữ, rằng dân ta thông minh và sáng tạo. Nhưng khi có ai đề nghị cải cách thể chế, phục hồi các quyền căn bản của công dân (như tự do báo chí, tự do ngôn luận, trưng cầu dân ý) thì chính những cán bộ này lại nói rằng trình độ dân trí còn thấp, chưa thể cải cách được. Hiếm thấy các quan chức Việt Nam khinh thường dân như thế. Ấy thế mà họ lúc nào cũng oang oang nói là đầy tớ của nhân dân!

Nhưng những dữ liệu tôi vừa trình bày trên đây cho thấy dân trí Việt Nam khá tốt. Tuy nhiên, hãy giả dụ rằng người dân thiếu thông tin, thì nhiệm vụ của Nhà nước là phải cung cấp cho họ thông tin đa chiều để nâng cao nhận thức và “dân trí”. Nhưng rất tiếc là các cán bộ trong chính quyền chưa làm (hay chưa dám làm) việc nâng cao dân trí bằng cách cung cấp thông tin cho người dân.

Thật ra, những người mở miệng nói dân trí thấp chính là “suy bụng ta ra bụng người” — chính cái quan trí của họ mới thật sự thấp.
___
Ghi thêm: Hôm nay, ông dân biểu này đính chính rằng ông ủng hộ trưng cầu dân ý, nhưng chỉ hạn chế trong một số vấn đề (4). Ông không nói những vấn đề nào không nên trưng cầu dân ý, có lẽ chính ông cũng không biết.
Ông “đá banh” sang một ông giáo sư luật tên là Nguyễn Đăng Dung, nói rằng ông Dung là người nói trình độ dân trí VN còn thấp và trưng cầu ý kiến chỉ gây hại. Chưa biết có thật sự Gs Dung nói câu đó. Thật ra, bất cứ ai, kể cả những người có chức danh giáo sư, mà nói thế thì tôi nghĩ cái trí của người đó cũng thấp thế thôi, đâu có đáng để tham khảo. Vấn đề là chứng cứ, chứ ý kiến cá nhân của ông ấy chẳng có giá trị gì.

(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/241118/trung-cau-y-dan-phai-xem-long-dang.html

(2) http://vietnam.unfpa.org/webdav/site/vietnam/shared/Factsheet/FINAL_Factsheet_Education_ENG.pdf

(3) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/09/ve-nhung-con-so-giao-su-pho-giao-su-vn.html

(4) http://vtc.vn/noi-trinh-do-dan-tri-thap-bi-phan-ung-dai-bieu-ha-minh-hue-len-tieng.2.556547.htm 

Thứ Bảy, ngày 06 tháng 6 năm 2015

Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lành ở Biển Đông nữa!

Tác giả: Andrew Browne- Wall Street Journal 2/6/2015/ Người dịch: Trần Văn Minh

Ở vào thế giành quyền kiểm soát hồ” của mình, Trung Quốc rút lại sự khoan dung lâu dài dành các nước láng giềng
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã 'kiềm chế hết mức' ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
SINGAPORE—Cách Trung Quốc xem các tranh chấp chủ quyền đang sôi động ở Biển Đông, rằng sự nhẫn nại của họ đã đi quá xa.
Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn.
Cảm nghĩ về tính chính đáng này đã dẫn Trung Quốc tới dự án xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa, mà hiện nay là tâm điểm của một cuộc khủng hoảng đang gia tăng trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới.
Và điều này đến từ một quan điểm lịch sử xa xưa. Trung Quốc chỉ đơn thuần trả lại những gì họ gọi là “vùng biển gần” của họ cho nhà nước mà họ tin rằng nhà nước này đã hiện hữu hàng ngàn năm – như là một cái “hồ” của Trung Quốc – trước kỷ nguyên chủ nghĩa thực dân xâm chiếm.
Ngày nay, sau khi Trung Quốc bỏ sau lưng cuộc nội chiến, sự xâm lược của Nhật Bản và các xáo trộn khác, và sau bốn thập niên tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, cuối cùng họ đã đủ mạnh để đứng thẳng lên dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình.
Còn xa với cách hành xử như một quyền lực xét lại với tham vọng quân sự để thống trị, trong cách tính toán của Trung Quốc để mở rộng các rạn san hô và đá thành các pháo đài tiềm năng là một hành động cứu chuộc với lịch sử.
Một cách ngắn gọn, các hoạt động nạo vét của Trung Quốc không phá vỡ sự cân bằng, Trung Quốc khôi phục lại nó.
Bên ngoài, quan điểm chung này giúp giải thích tuyên bố bất thường của Đô đốc Tôn Kiến Quốc tại hội nghị an ninh quan trọng ở Singapore vào cuối tuần trước.
Khi chính ông nói tới vấn đề nằm trong tâm trí của tất cả mọi người tại Đối thoại Shangri-La – việc Trung Quốc xây dựng 2.000 mẫu đất trên lãnh thổ giữa biển trong vòng 18 tháng qua (tương đương với 1.500 sân bóng bầu dục) – Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc tuyên bố rằng, nước ông đang thực sự kiềm chế.
Ông nói, “Trung Quốc đã kiềm chế hết sức”.
Không đếm xỉa tới lời kêu gọi của ông Ash Carter, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nên ngừng công việc mở rộng, là đe dọa ưu thế quân sự của Mỹ và đẩy qua hết một bên quốc gia Á châu này đến quốc gia khác, đến nỗi các lãnh đạo quân đội và an ninh của họ than phiền rằng Trung Quốc đang đe dọa hòa bình, Đô đốc Tôn khẳng định rằng các hoạt động xây dựng là “hợp pháp, chính đáng và hợp lý”.
Đô đốc Tôn đã không tiếp tục giải thích những gì Trung Quốc có thể sẽ làm nếu họ không tự kềm chế.
Tuy nhiên, câu hỏi này là gốc rễ của sự lo lắng hiện nay đang chi phối châu Á. Nếu một công cuộc xây dựng thả cửa với mức độ chưa từng thấy mà gọi là kiềm chế, thì sự không kiềm chế sẽ như thế nào?
Bởi vì các tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc quá rộng lớn – gần như toàn bộ Biển Đông và tất cả các thực thể biển – nỗi lo sợ trong vùng Đông Nam Á là Trung Quốc đang tạm thời đè nén sự thôi thúc cho việc kiểm soát toàn bộ cái “hồ” của họ và các tuyến đường biển trong đó.
Bằng cách thúc giục Việt Nam ngưng các công trình cải tạo đảo của mình trong khu vực, ông Carter cho thấy rằng ông hiểu rất rõ mối nguy hiểm khi mà sự kiên nhẫn của Trung Quốc có thể chấm dứt.
Nhiều nước trong khu vực tin rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi Trung Quốc tuyên bố kiểm soát bầu trời bằng cách thiết lập một khu vực phòng thủ không gian, giống như điều mà họ đã tuyên bố trên biển Hoa Đông – một hành động mà Đô đốc Tôn không loại trừ. Một hành động như vậy “sẽ phụ thuộc vào vấn đề nếu an ninh hàng hải của chúng tôi bị đe dọa”, ông nói.
Trung Quốc đã khẳng định quyền điều khiển tất cả các hoạt động đánh bắt cá trong khu vựcBiển Đông. Và họ xem toàn bộ khu vực này là một phân khu hành chánh của đảo Hải Nam, một lệnh điều hành của chính phủ [TQ] tiến xa về phía nam, tới tận Indonesia.
Thêm nữa, Trung Quốc lựa chọn những khía cạnh của luật pháp quốc tế hỗ trợ cho trường hợp của họ và phớt lờ những điều không hỗ trợ. Mặc dù họ ký Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, nhưng họ chưa bao giờ nêu ra yêu sách biển dựa theo luật đó.
Tháng trước, hải quân Trung Quốc đã cố gắng xua đuổi một máy bay do thám của Mỹ mang theo một đội thu hình của CNN tiếp cận đá Chữ Thập, một trong những công trình xây dựng lớn nhất. “Hãy đi khỏi!” một nhân viên phát thanh của hải quân Trung Quốc la lớn.
Máy bay P-8 Poseidon đã bị cảnh báo đang tiến tới một “khu vực báo động quân sự” – một dạng không phận không có cơ sở pháp lý. Lời cảnh báo này chỉ ra rằng Trung Quốc hẳn có ý định sử dụng công trình xây cất để tăng cường kiểm soát bầu trời trên Biển Đông và các tuyến đường biển, tuyến đường chứa hơn một nửa thương mại thế giới.
Thựa ra, sự nhập nhằng là một chiến thuật có chủ ý của Trung Quốc. Một đường chín đoạn xuất hiện trên bản đồ của Trung Quốc xung quanh Biển Đông, cho thấy quyền sở hữu của Trung Quốc không bao gồm bất kỳ tọa độ nào. Cũng như Trung Quốc chưa từng giải thích về cơ sở pháp lý của bản đồ.
Dù vậy, không phải ai cũng tin rằng Trung Quốc có ý định áp đặt các tuyên bố chủ quyền của họ tới cùng.
Viết trên báo Straits Times của Singapore tuần này, ông Vương Canh Vũ (Wang Gungwu), một giáo sư tại Đại học Quốc gia Singapore và là một học giả hàng đầu về triều đình Trung Quốc, biện giải rằng Trung Quốc chưa bao giờ mong muốn trở thành một đế chế hàng hải. Các chuyến hải hành 600 năm trước của thái giám Đô đốc Trịnh Hòa là một điều khác thường.
Không giống như Anh và Mỹ, là những nước xây dựng vị thế siêu cường thông qua sức mạnh hải quân, Trung Quốc có truyền thống tìm kiếm quyền lực thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ.
Ông Vương viết: “Vấn đề chính của Trung Quốc là làm thế nào để thuyết phục các nước láng giềng rằng họ không có ý định chuyển từ quả quyết tới áp chế”.
Trong lúc này, Mỹ và các đồng minh Á châu chỉ còn phỏng đoán sự tự kiềm chế của Trung Quốc sẽ kéo dài bao lâu. Các cuộc tranh luận tại Washington về việc liệu sự kiềm chế của Trung Quốc cần được khuyến khích thông qua ngoại giao và kêu gọi tuân thủ các nguyên tắc pháp lý và chuẩn mực quốc tế, hoặc áp đặt bằng vũ lực. Dù bằng cách nào đi nữa, sự kiềm chế không thể xem như mặc định.

Thứ Tư, ngày 03 tháng 6 năm 2015

Sự suy xét lại toàn diện của Mỹ về Trung Quốc

Tác giả: David FeithWall Street Journal 28-05-2015
Người dịch: Trần văn Minh

Ảnh: REUTERS/STRINGER
Ảnh: REUTERS/STRINGER
Washington có thể vất bỏ chiến lược hội nhập sử dụng trong 45 năm qua
Tham vọng của Bắc Kinh thống trị một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới là Biển Đông, một lần nữa trở thành điểm chú ý khi Mỹ và các nhà lãnh đạo Á châu tụ họp về cuộc Đối thoại Shangri-La, hội nghị thượng đỉnh an ninh Á châu. Cuộc họp năm ngoái xảy ra khi Trung Quốc đang khoan dầu ở vùng biển Việt Nam và bắn pháo nước vào các tàu thuyền cản đường của họ. Năm nay Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự trên 2.000 mẫu đất nhân tạo mà họ đã bồi đắp lên trên các rạn san hô và đá do các nước láng giềng tuyên bố chủ quyền.
Nhưng một chuyện lớn đã xảy ra. Hành vi từ trước đến giờ của Trung Quốc đã đưa đến sự thay đổi trong tư duy chiến lược của Mỹ. Tiến trình từng bước của Bắc Kinh theo kiểu “tằm ăn dâu” để kiểm soát hàng hải có thể đã đi quá xa, dẫn đến lập trường quan điểm cứng rắn hơn trong số các quan chức, các chuyên gia chính sách, các nhà lãnh đạo kinh doanh và cử tri. Sự cứu xét này có thể định hình an ninh toàn cầu trong nhiều thập niên tới.
***
Bắt đầu với Tổng thống Barack Obama, đang chuẩn bị đón tiếp lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến viếng thăm cấp nhà nước vào tháng 9, theo sau chuyến đi của ông tới Bắc Kinh năm ngoái, bao gồm việc ký kết một hiệp ước môi trường được ca ngợi (nhưng không có chế tài). Dự đoán chuyến thăm của ông Tập sẽ tập trung vào các lĩnh vực hợp tác, nhưng ngay cả ở cấp tổng thống sự việc này chỉ làm mát một chút.
Tại hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của họ hai năm trước, ông Obama có vẻ chấp nhận khẩu hiệu của ông Tập rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc nên theo đuổi “một mô hình mới về quan hệ giữa các cường quốc”. Cố vấn An ninh Quốc gia Susan Rice cam kết cuối năm đó để “thực nghiệm hóa” khái niệm của Bắc Kinh, ngay cả khi khái niệm này ngày càng có vẻ giống như một đòi hỏi để thích nghi với một thế giới ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Á. Một lần nữa ông Obama nói về sự “tiếp tục củng cố và xây dựng một mô hình quan hệ mới” vào tháng 3 năm 2014, nhưng ông đã mau chóng ngừng sử dụng cụm từ – một sự thay đổi được ghi nhận ở Bắc Kinh – nơi mà sự thành hình quan hệ chính thức như vậy mang tầm quan trọng đáng kể.
Quan hệ giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc cũng vì thế hạ nhiệt sau một khoảng thời gian ấm áp mà đỉnh điểm là việc Trung Quốc tìm kiếm và nhận được lời mời đến cuộc Tập trận Hải quân Đa phương Vành đai Thái Bình Dương do Hoa Kỳ lãnh đạo (Rimpac) lớn nhất thế giới, vào năm 2014. Đô đốc hải quân Mỹ, Jonathan Greenert, được biết là đã trở nên rất gần gũi với người đồng nhiệm phía Trung Quốc, Đô đốc Wu Shengli, đến nỗi một số quan chức Ngũ Giác Đài đề cập đến bộ đôi bằng từ ghép “Wunert.”
Tuy nhiên, một ước muốn lớn của hai đô đốc – để đưa hàng không mẫu hạm USS George Washington đến một cảng của Trung Quốc, có lẽ Thượng Hải, để nhân viên hải quân Trung Quốc tham quan – đã bị Ngũ Giác Đài hủy bỏ, ít nhất là tạm thời, vào tháng 1. Các quan chức Mỹ từng nói rằng Trung Quốc trước tiên phải ký kết một số quy tắc về xử lý các cuộc tiếp cận ngoài ý muốn giữa các máy bay quân sự. Các quy định như vậy có thể phòng ngừa máy bay chiến đấu của Trung Quốc hoạt động bay lượn nguy hiểm trong vòng 50 feet của chiếc máy bay do thám của Mỹ trong không phận quốc tế ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc tháng 8 năm ngoái.
Hải quân Mỹ cho biết Trung Quốc đã tôn trọng các quy định ký kết năm ngoái liên quan đến các cuộc tiếp cận ngoài ý muốn trên biển. Nhưng các quan chức vẫn còn khiếu nại về việc Trung Quốc từ chối mở đường thông tin đáng tin cậy và giải thích các hành động gây mất ổn định như việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo với mục tiêu quân sự – điều mà Đô đốc hạm đội Thái Bình Dương mới của Mỹ, Harry Harris, gọi là “vạn lý trường thành cát”. Nhân viên của Quốc hội và những người khác ở Washington hy vọng quân đội Trung Quốc sẽ không được mời vào cuộc tập trận Rimpac kế tiếp.
Nên nhớ rằng tất cả những điều này, từ một chính quyền hầu như không buồn đối đầu với các đối thủ ngoại quốc của Mỹ. Nhưng trong việc chuyển đổi lập trường đối với Trung Quốc, Washington giống như một chỉ số tụt hậu. Thăm dò dư luận từ Pew cho thấy chỉ có 35% người Mỹ xem Trung Quốc là thuận lợi trong năm qua, giảm từ một nửa vào năm 2011 (Có hơn 80% người Nhật, Việt Nam, Hàn Quốc, và hơn 90% người Philippines lo sợ tranh chấp lãnh thổ sẽ dẫn đến xung đột vũ trang).
Ngay cả Phòng Thương mại Mỹ tại Trung Quốc, đại diện cho các công ty mà từ lâu từng ủng hộ Bắc Kinh mạnh mẽ nhất ở Washington, nhận thấy, 60% thành viên của họ than phiền năm ngoái rằng các điều kiện ở Trung Quốc đang ngày càng tồi tệ cho các doanh nghiệp ngoại quốc. IBM và nhiều công ty khác tiếp tục mở rộng đầu tư ở Trung Quốc, nhưng có lẽ có một giới hạn về số lượng trộm cắp sở hữu trí tuệ mà các công ty Mỹ chịu đựng được, đó là chưa nói tới những người Mỹ mà hệ thống lưới điện, đường ống dẫn khí đốt và email, tất cả đều là nạn nhân của các cuộc tấn công tin học không ngừng của Trung Quốc .
Lời kêu gọi rõ ràng nhất để xem xét lại chính sách Trung Quốc đến từ một bài nghiên cứu của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) gần đây do nhà cựu ngoại giao Mỹ Robert Blackwill và Ashley Tellis biên soạn. Họ viết, sự mong đợi sau bốn thập niên của sự hội nhập Mỹ-Trung đã được chứng minh không thể vận hành được: Trung Quốc không quan tâm đến việc trở thành một “thành viên có trách nhiệm” trong bất kỳ trật tự thế giới tự do nào do Mỹ dẫn đầu, chấm hết! Bắc Kinh muốn kết thúc sự thắng thế của Mỹ ở khu vực Đông Á, một mục tiêu sẽ gây nguy hiểm cho các lợi ích của Mỹ trong vấn đề thương mại tự do, không phổ biến vũ khí hạt nhân, hòa bình và ổn định.
Họ viết, Trung Quốc không phải kẻ thù và chính sách “vây bọc” không thích hợp, nhưng do thận trọng đòi hỏi, phải cố gắng để “hạn chế khả năng Trung Quốc lạm dụng sức mạnh ngày càng tăng của họ”. Vì vậy, thực hiện chính sách “xoay trục” của Obama – di chuyển lực lượng quân sự qua Á châu, hoàn tất Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương – nhưng cũng cần làm nhiều hơn. Họ nói rằng: Loại bỏ mức trần ngân sách cho quốc phòng, duy trì cân bằng hạt nhân, đẩy mạnh phòng thủ tên lửa, mở rộng hợp tác với các đối tác khu vực, nhấn mạnh về tự do hàng hải. Hơn nữa: Thắt chặt giới hạn về chuyển giao công nghệ cho các khách hàng Trung Quốc và thậm chí theo đuổi chính sách “đánh thuế đồng loạt trên mọi hàng hóa Trung Quốc” để trả lời cho việc ăn cắp tin học.
***
Trong bối cảnh này, sự thách thức Trung Quốc vượt xa chuyện xây đảo đang cấp thời gây rất nhiều chú ý. Nhưng khi các đại biểu gặp nhau tại Đối thoại Shangri-La, các nước láng giềng Trung Quốc và các quan chức hàng đầu của Mỹ lên tiếng báo động. Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter cho biết hôm thứ Tư, “Không nên hiểu sai về điều này. Hoa Kỳ sẽ bay, hải hành và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như chúng tôi làm trên toàn thế giới”.
Phát biểu hùng hồn như thế cho thấy, xuất phát từ một sự đồng thuận hoàn toàn của Washington rằng Trung Quốc đã tự tuyên bố là một đối thủ chiến lược thực sự. Đối xử với Trung Quốc như thế sẽ kéo theo những rủi ro và cơ hội mà các nhà lãnh đạo và cử tri Mỹ chỉ mới bắt đầu suy ngẫm. Nguy cơ là rất lớn, đại diện cho một sự thay đổi chiến lược chưa từng có trong tay chỉ một năm trước đây, hoặc cho cả thời gian 45 năm qua.
Ông Feith là là biên tập viên cho trang bình luận của tờ The Wall Street Journal ở Hồng Kông.

Thứ Hai, ngày 01 tháng 6 năm 2015

Các thực tế lịch sử và sự bịa đặt ở Biển Đông


The Observer 01/06/2015




Nguồn: Bill Hayton, “Fact, Fiction and the South China Sea”, Asia Sentinel, 25/05/2015.

Biên dịch: Phan Văn Song

Chỉ trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc ở Biển Đông. Nơi sự việc diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague và bước đầu tiên của tòa – trong thời gian nghị án vào tháng 7 – sẽ là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay không.

Điều Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.

Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km).

Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên.

Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc.

Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng nào.

Đây không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các viện nghiên cứu chính sách (think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách. Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy.

Đây là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thực thể địa lý trong biển này- và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.

Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai

Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che phủ dòng quan điểm quốc tế về tranh chấp Biển Đông. Nó đang bẻ lệch các đánh giá về tranh chấp này ở cấp cao trong chính phủ – cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1], một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc Charles Freeman tại Đại học Brown[2] và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở tại Hoa Kỳ.[3]

Điểm nổi bật về những công trình gần đây này – và chúng chỉ là các ví dụ của một lượng văn liệu lớn hơn nhiều – là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên 1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4] cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels năm 1982;[5] cuốn sách China’s Ocean Frontier[6] của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明 (Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7] và 2002.[8]

Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông]. Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công trình khác trích dẫn, và sách của Samuels là 143. Những công trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm 1994[9] và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 – rồi tới phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình khác nữa trích dẫn.[10] Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ các dữ liệu lịch sử” (p.16). Đô Đốc (về hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “ vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.”

Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng có một số đặc điểm chung:
Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này.
Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material)
Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn tham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này
Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật
Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử
Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc

Các công trình ban đầu về tranh chấp

Việc viết về các tranh chấp ở Biển Đông bằng tiếng Anh nổi lên như hậu quả trực tiếp của ‘Trận đánh ở quần đảo Hoàng Sa’ vào tháng 1 năm 1974, khi quân đội Trung Quốc đuổi quân đội Việt Nam Cộng Hòa (‘Nam Việt Nam’) ra khỏi nửa phía Tây của quần đảo này.

Các phân tích đầu tiên mang tính báo chí, trong đó có một bài của Cheng Huan, lúc đó là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa ở London mà bây giờ là một khuôn mặt pháp lý cao cấp tại Hong Kong, trong ấn bản tháng sau đó của Far Eastern Economic Review (Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông).[11] Trong bài đó, ông phát biểu rằng, “yêu sách lịch sử của Trung Quốc [đối với quần đảo Hoàng Sa] rất vững chải về mặt tài liệu ghi chép (well documented) và đi ngược về quá khứ xa xưa rất nhiều năm, rằng sẽ gần như bất khả để bất kỳ nước nào khác đưa ra một phản yêu sách có ý nghĩa.” Lời thẩm định của một sinh viên còn non choẹt đã được chuẩn nhận trích dẫn trong cuốn sách ‘China’s Policy Towards Territorial Dispute’ của Chi-Kin Lo xuất bản năm 1989.[12]

Các công trình có tính học thuật đầu tiên xuất hiện năm sau đó. Chúng gồm một bài viết của Tao Cheng cho Tạp Chí Luật Quốc Tế Texas[13] và một bài khác của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cho Ocean Development & International Law.[14] Năm sau, Viện Nghiên Cứu Châu Á tại Hamburg xuất bản một chuyên khảo của học giả Đức Dieter Heinzig có tựa là ‘Disputed islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông).[15] Đây là những bài viết mở đuờng nhưng nội dung – và do đó phân tích của chúng- còn xa mới có tính trung lập.

Bài của Cheng chủ yếu dựa vào nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mĩ. Các nguồn chính của Trung Quốc là các tạp chí thương mại hồi thập niên 1930, đáng chú ý là các số của tạp chí Wai Jiao Ping Lun [外交评论 (Ngoại Giao Bình Luận)] ở Thượng Hải năm 1933 và năm 1934 và Xin Ya Xiya yue kan [新亚细亚月刊 (Tân Á Tế Á Nguyệt San: Nguyệt san Châu Á mới)] năm 1935. Các nguồn này được bổ sung bằng các tài liệu từ tạp chí tin tức hàng thángMing Pao [明报 (Minh Báo)] ở Hong Kong năm 1973 và năm 1974. Các báo khác được trích dẫn bao gồm Kuo Wen Chou Pao [国文周报 (Quốc Văn Chu Báo: Tuần Báo Quốc Văn)], xuất bản tại Thượng Hải từ năm 1924 đến 1937, Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo] và New York Times. Cheng không tham khảo bất kỳ nguồn nào của Pháp, Việt Nam hoặc Philippines, ngoại trừ một bài báo từ La Geographie (Địa Lí) năm 1933 đã được dịch và in lại trong Wai Jiao Ping Lun.

Bài báo của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cũng dựa trên các nguồn tương tự. Trong những phần cốt lõi, bài viết trích dẫn bằng chứng dựa trên các bài báo được xuất bản vào năm 1933 trong Wai Jiao Ping Lun[16] và Wai Jiao Yue Bao [外交月报 (Ngoại Giao Nguyệt Báo)][17], vàFan-chih Yueh-k’an [方志月刊 (Phuơng Chí Nguyệt San)] năm 1934[18] cũng như Kuo-wen Chou Pao (Quốc Văn Chu Báo) năm 1933 và Wai-Chiao-pu kung-pao [外教部公宝(Ngoại Giao Bộ Công Báo: Công báo Bộ Ngoại Giao)] của chính phủ Trung Quốc.[19] Nó bổ sung thông tin này với các tài liệu thu thập được từ quyển Nan-hai chu-tao ti-li chih lūeh [南海诸岛地理志略 (Nam Hải chư đảo địa lý chí lược)] của Cheng Tzu-Yueh [郑资约 (Trịnh Tư Ước)] xuất bản năm 1948 ở Thượng Hải,[20] và các tuyên bố của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) từ năm 1956[21] đến 1974.[22]

Chiu và Park có sử dụng một số tài liệu tham khảo của Việt Nam, đặc biệt là 8 thông cáo báo chí hay các bảng kê sự kiện do Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington đưa ra. Họ cũng tham khảo một số “tài liệu chưa được công bố thuộc sở hữu của hai tác giả.” Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.

Viết một năm sau đó, Dieter Heinzig dựa vào, đặc biệt là các ấn bản của hai tạp chí Hong KongCh’i-shih nien-tai [七十年代 (Thất thập niên đại)] và Ming Pao [明报 (Minh Báo)][23] xuất bản lần lượt vào tháng 3 và tháng 5 năm 1974.

Điều quan trọng là tất cả những bài viết nền tảng này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cơ bản cho các bài báo Trung Quốc xuất hiện trên truyền thông vào những thời điểm khi thảo luận về Biển Đông đã bị chính trị hóa cao độ. Năm 1933 là năm mà Pháp chính thức sáp nhập các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa – kích động sự giận dữ lan rộng ở Trung Quốc, 1956 là năm mà doanh nhân Tomas Cloma của Philippines tuyên bố hầu hết quần đảo Trường Sa là vùng đất tự do “Freedomland” của chính mình – kích động các phản yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa; và 1974 là năm có trận đánh Hoàng Sa.

Các bài báo được công bố trong ba thời kỳ này không thể được xem là các nguồn trung lập và vô tư về bằng chứng thực tế mà cần phải được xem là những tài liệu phe phái ủng hộ các quan điểm quốc gia cụ thể. Điều này không có ý nói rằng các tài liệu đó sẽ tự động không chính xác mà cần phải thận trọng kiểm chứng những điều chúng khẳng định với các nguồn tài liệu gốc. Đây không phải là điều mà các tác giả đã làm.

Khuôn mẫu do Cheng, Chiu và Park và Heinzig thiết lập sau đó đã được lặp lại trong cuốn sáchContest for the South China Sea của Marwyn Samuels.[24] Chính Samuels tự thừa nhận sự thiên vị Trung Quốc trong các nguồn của ông trong Lời Mở Đầu của cuốn sách, khi ông nói “đây không phải là một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử trên biển, chính sách đại dương hoặc lợi ích của Việt Nam hay Philippines ở Biển Đông. Thay vào đó, ngay cả khi với các yêu sách và phản yêu sách khác nhau được bàn luận khá dài, mối quan tâm cuối cùng ở đây là về tính chất thay đổi trong chính sách đại dương của Trung Quốc.” Kết hợp các vấn đề lại, Samuels thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu trong kho lưu trữ của Đài Loan. Tuy nhiên, các hồ sơ chính yếu liên quan đến hành động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông trong đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật năm 2008/9, sau khi công trình của ông được công bố khá lâu.[25]

Có một sự bùng nổ về việc viết lịch sử vào cuối thập niên 1990. Nhà địa lý Daniel Dzurek, cựu nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau trở thành nhà tư vấn trong lĩnh vực dầu khí đã viết một bài báo cho Đơn vị Nghiên cứu các Ranh giới Quốc tế của Đại học Durham vào năm 1996 và cuốn sách của một nhà phân tích Úc Greg Austin xuất bản vào năm 1998. Phần lịch sử của Austin tham khảo sách của Samuels, các bài viết của Chiu và Park, tài liệu có tên ‘Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa’ do Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố tháng 1 năm 1980[26] và một bài viết của Lin Jinzhi (Lâm Kim Chi) trên tờ Nhân Dân.[27] Cuốn sách của Dzurek cũng tương tự.

Người đóng góp quan trọng kế tiếp cho cách tường thuật này là một giáo sư luật Mỹ gốc Hoa, Jianming Shen thuộc Trường Luật Đại học St. John ở New York. Năm 1997, ông công bố một bài viết then chốt trong Hastings International and Comparative Law Review. Giống như Tạp Chí Luật quốc tế Texas, Tạp Chí này là một ấn phẩm do sinh viên biên tập. Hầu như không cần phải nói rằng ban biên tập gồm các sinh viên khó có thể là cơ quan tốt nhất để giám sát các công trình về lịch sử biển Châu Á. Tiếp sau bài viết này, Shen có một bài thứ hai trong một tạp chí có uy tín hơn, The Chinese Journal of International Law – mặc dù trong nhiều mục nó chỉ đơn giản là tham khảo bài viết thứ nhất.

Hai bài viết của Shen đặc biệt có ảnh hưởng – chẳng hạn bài của CNA 2014 dẫn ít nhất là 170 lần hai bài này. Tuy nhiên, khi kiểm tra lại nguồn thì thấy rõ hai bài này cũng đáng nghi như các bài có trước. Các mục về lịch sử nhằm cung cấp các bằng chứng cho bài năm 1997 của ông dựa phần lớn vào hai nguồn. Một là một cuốn sách của Duanmu Zheng [端木正 (Đoan Mộc Chính)] có tên Guoji Fa [Quốc Tế Pháp (Luật quốc tế)] do nhà xuất bản Đại Học Bắc Kinh xuất bản năm 1989 (đuợc tham chiếu ít nhất 18 lần).[28] Năm sau Duanmu chính thức trở thành quan chức pháp luật đứng thứ hai ở Trung Quốc – Phó Chánh Án Toà án Nhân dân Tối cao của Trung Quốc – và sau đó là một trong những người dự thảo Luật Cơ bản của Hong Kong.[29] Nói cách khác, ông là một quan chức cấp cao của nhà nước Trung Quốc. Nguồn sử liệu chính khác của Shen là một tập hợp các bài từ một hội nghị chuyên đề về các đảo ở Biển Đông do Viện Chiến lược Phát triển Biển, một bộ phận của Cục Hải Dương Quốc Gia Trung Quốc, tổ chức năm 1992 (đuợc tham chiếu dẫn ít nhất 11 lần). Có vẻ còn hơn là trớ trêu rằng tài liệu do Cục Quản Lý Hải dương Quốc Gia làm ra và tiếp đó được các cơ quan pháp lý của Trung Quốc xào nấu thông qua các tác phẩm của giáo sư Shen và của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân lúc đó mà bây giờ lại trở thành một thành phần trong hiểu biết của Lầu Năm Góc về lịch sử Biển Đông.

Không ai trong số các tác giả được nói tới cho đến giờ là chuyên gia về lịch sử biển ở Biển Đông mà là các nhà khoa học chính trị (Cheng và Samuels), luật sư (Chiu và Park và Shen) hoặc chuyên gia quan hệ quốc tế (Heinzig và Austin). Như một quy luật, các công trình của họ không kiểm tra tính toàn vẹn của các lời văn mà họ trích dẫn, và họ cũng không bàn luận về bối cảnh mà chúng được tạo ra. Đặc biệt Cheng cùng với Chiu và Park lại đưa vào các khái niệm lỗi thời – chẳng hạn như ‘đất nước’ (country) để mô tả quan hệ tiền hiện đại giữa các thực thể chính trị xung quanh Biển Đông – cho những giai đoạn mà các quan hệ chính trị rất khác biệt với các quan hệ đang có hiện nay.

Cũng đáng chú ý là Cheng, Chiu và Shen đều là người gốc Hoa. Cheng và Shen đều tốt nghiệp LLB (Cử Nhân Luật) tại Đại học Bắc Kinh. Chiu tốt nghiệp Đại học Quốc gia Đài Loan. Dù điều này tất nhiên không tự động làm cho họ thành thiên vị, nhưng sẽ hợp lý để cho rằng họ quen thuộc với các tài liệu của Trung Quốc và các quan điểm của Trung Quốc nhiều hơn. Cả Samuels lẫn Heinzig đều là những học giả về Trung Quốc.

Bằng chứng có lổ hổng

Hầu như không đáng ngạc nhiên rằng những tài liệu bằng tiếng Anh đầu tiên về tranh chấp [Biển Đông], được viết như thể chúng do các tác giả Trung Quốc viết và dựa trên các nguồn của Trung Quốc, ủng hộ lập luận của Trung Quốc. Cheng đánh giá (p. 277) rằng “có lẽ an toàn để nói rằng vị thế của Trung Quốc trong tranh chấp các đảo ở Biển Đông là một ‘yêu sách vượt trội hơn cả’.” Chiu và Park (p.20) kết luận rằng “Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlies [nguyên văn]) mạnh mẽ hơn Việt Nam.” Có thể thấy rõ quan điểm của Shen qua tựa hai bài báo của ông ta: ‘Các quy tắc của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử hậu thuẫn quyền sở hữu của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông’ và ‘Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông.’

Những lời phán này vẫn còn có ảnh hưởng tới ngày nay: chẳng hạn chúng đã được các bài viết của Li và Tan năm 2014 trích dẫn. Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn các bằng chứng mà họ dựa vào thì sẽ thấy chúng sai lầm trầm trọng. Những bài viết vào năm 1933, 1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập mà là các bài đọc có tính phe phái về lịch sử tranh chấp.

Bài viết này không có chỗ để nêu lên tất cả những khẳng định mà các tác giả đã đưa ra về các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các điều Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đưa ra đều có cùng giả định chung: đó là Trung Quốc luôn luôn chiếm ưu thế hải quân, thương mại và khả năng đánh cá ở Biển Đông. Chẳng hạn như Cheng đã nêu như thế này, “Nó là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu đến Phương Đông kể từ thế kỷ thứ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân Đảo Hải Nam, và là cửa ngõ cho các thương gia Trung Quốc từ miền Nam Trung Quốc đến Đông Nam Á kể thời xa xưa” (p.266).

Lịch sử dựa vào thực tiễn Biển Đông nhiều hơn gợi cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade đã cho thấy việc sử dụng biển trong thời tiền hiện đại đa phương hơn rất nhiều. Tàu thuyền và các thương nhân Trung Quốc hầu như không có vai trò trong giao thương đường biển cho mãi đến thế kỷ thứ 10 và thậm chí sau đó cũng chưa bao giờ chiếm ưu thế mà sử dụng biển chung với người Malaysia, Ấn Độ, Ả Rập và Châu Âu. Nghiên cứu của François-Xavier Bonnet,[30] Ulises Granados[31] và Stein Tønnesson[32] cho thấy mô thức tương tự đã kéo dài tới thế kỷ 20 như thế nào.

Nhiều tài liệu tiết lộ hồi đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát ngay cả bờ biển của chính mình, và hoàn toàn không có khả năng triển khai thẩm quyền tới các đảo cách xa hàng trăm cây số ngoài khơi. Ví dụ, hai bài báo trên The Times ở London tháng 1 năm 1908 mô tả sự bất lực của chính quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát ‘cướp biển’ ở sông Tây Giang – trong nội địa ở Quảng Châu.[33] Một bài báo trên tờ The Examiner của Australia năm 1909 cho chúng ta biết rằng người nước ngoài (“hai người Đức, một người Nhật, và một số người Malaysia”) đã bắt đầu các hoạt động khai mỏ trên đảo Hải Nam mà không có cơ quan chức năng nào phát hiện cho đến mãi sau này.[34]

Điều mà các tài liệu này bộc lộ là một Biển Đông cho đến giữa thế kỷ 20 cơ bản vẫn không ai cai quản trừ các can thiệp khi cần của các cường quốc nước ngoài để chống cướp biển. Chỉ trong năm 1909, sau vụ tranh cãi xung quanh việc nhà khai thác phân chim Nhật Nishizawa Yoshiji chiếm đảo Pratas [Trung Quốc gọi là Đông Sa] thì nhà chức trách Trung Quốc mới trở nên quan tâm đến các đảo ngoài khơi.[35]

Việc phản đối các cuộc khảo sát của Đức

Tuy nhiên, Samuels (p. 52) cho rằng có thể xem Trung Quốc đã ngầm yêu sách quần đảo Trường Sa từ năm 1883 khi (theo trình bày của ông) chính phủ nhà Thanh chính thức phản đối đoàn khảo sát (có nhà nước bảo trợ) của Đức tới quần đảo Trường Sa. Khẳng định này lấy nguồn từ số tháng 5 năm 1974 của tạp chí tháng Ming Pao của Hong Kong mà không có bằng chứng bổ trợ nào khác. Chiu và Park (trong chú thích 47) quy nó về một bài báo trong Wai Jiao Yue Bao năm 1933, tức viết ra sau sự kiện đang nghi vấn này những 50 năm,[36] Heinzig cũng trích dẫn cùng số Ming Pao mà Samuels dựa vào để nói rằng đoàn khảo sát Đức năm 1883 thực sự đã rút đi sau khi có phản đối của Trung Quốc.

Điều khẳng định này có vẻ rất khó xảy ra bởi vì các nhà khảo sát Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (không phải Trường Sa) từ năm 1881 đến năm 1883, hoàn tất công việc và sau đó đã xuất bản một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất bản năm 1885.[37]

Công ước Pháp-Thanh [Sino-Tonkin] 1887

Samuels lập luận rằng công ước Pháp – Thanh 1887 do chính phủ Pháp đàm phán, trên danh nghĩa là thay mặt cho cho Bắc Kỳ [Tonkin], cho ra một thỏa thuận quốc tế phân các đảo này [Hoàng Sa và Trường Sa] cho Trung Quốc (p. 52). Điều 3 của Công ước quả thực có phân các đảo phía Đông kinh tuyến Paris 105° 43′ cho Trung Quốc. Nhưng Samuels và các tác giả khác không để ý rằng Công Ước này áp dụng cho Bắc Bộ – khu vực phía Bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm lệch xa về phía Nam trong khu vực mà lúc đó là lãnh địa của An Nam (Trung Kỳ) và Nam Kì không thuộc phạm vi của Công Ước.

Bí ẩn của chuyến đi năm 1902

Ngoài ra còn xuất hiện một số nhầm lẫn về thời gian của chuyến đi đầu tiên của các quan chức Trung Quốc tới quần đảo Hoàng Sa. Samuels (p. 53), tin vào của bài viết trên Ming Pao năm 1974, cho chuyến đi đó là vào năm 1902 với chuyến đi thứ hai vào năm 1908. Austin và Dzurek viết theo Samuels trong sự việc này. Li và Tan (2014) cũng khẳng định là năm 1902, cùng với một chuyến đi riêng biệt khác vào năm 1907. Cheng cho nó là vào năm 1907, dựa trên một số tài liệu tham khảo năm 1933[38] như Chiu và Park đã làm, hai tác giả này dẫn một ấn bản năm 1933 của Kuo-wen chou -pao.[39] Tuy nhiên, trái ngược với các tường thuật này, được viết sau cái cho là các sự kiện mà họ định mô tả tới 26 và 72 năm, việc khảo sát báo chí cùng thời đó cho thấy khá rõ rằng các chuyến đi diễn ra vào năm 1909.

Có lý do chính đáng cho sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902 này. Vào tháng 6 năm 1937, trưởng khu hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang Qiang, đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa thực hiện một nhiệm vụ bí mật – một phần là để kiểm tra xem có hoạt động của người Nhật trên các đảo hay không.

Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác – mà một phụ lục bí mật kèm báo cáo của ông cho thấy rõ. Một đoạn trích của phụ lục này đã được Ủy ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987.[40] Tàu của ông chở theo 30 cột mốc (marker) bằng đá – một số ghi năm 1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc, họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên Đảo Linh Côn (Lincoln), toán công tác chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột ghi năm 1921 và trên đảo Phú Lâm, 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng, trên Đảo Đá (Rocky), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912.

Các cột mốc này bị quên lãng cho mãi đến năm 1974 khi mà, sau trận đánh Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và ‘khám phá’ này được làm ầm ĩ trên báo chí Hồng Kông – như Ming Pao. Chuyến đi năm 1902 không hề tồn tại này sau đó lại đi vào sử sách. Chỉ tới bây giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp làm việc ở Manila Francois-Xavier Bonnet vạch trần.[41]

Tên các đảo

Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ‘thẩm tra lại tên các đảo ở biển Nam Trung Quốc’ năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một số trong những cái tên tiếng Trung tiếp tục vinh danh các nhà khảo sát Anh vốn lập bản đồ các thực thể địa lý này lần đầu tiên. Trong quần đảo Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] – dịch từ Antelope Reef (Đá Hải Sâm) – vốn được đặt tên theo tàu khảo sát Antelope của Anh. Jin Yin Dao [Kim Ngân Đảo] – Money Island (Đảo Quang Ảnh) – không phải được đặt tên theo tiền và bạc – mà theo tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine – đoàn tàu của Công ti Đông Ấn.

Phản đối ngoại giao năm 1933?

Một lập luận vốn là chìa khóa cho yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa là việc khẳng định thường được lặp đi lặp lại rằng Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi nước này chính thức sáp nhập một số thể địa lý trong quần đảo Trường Sa vào ngày 26 tháng 7 năm 1933. Điều chắc chắn đúng là sự sáp nhập gây kinh ngạc trong chính phủ và nỗi tức giận dân tộc chủ nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, có chăng một phản đối chinh thức đã được đưa ra?

Tao Cheng, trong bài báo năm 1975, dẫn một bài viết trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan (Tân Á Tế Á Nguyệt San)], ra hai năm sau đó, năm 1935.[42] Chiu và Park nêu trong một chú thích rằng “có bằng chứng rằng Trung Quốc cũng phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min trong Wai-Chiao Yueh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo],[43] và một cuốn sách Nan-hai-chu tao ti-li chih- lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] năm 1948 của Cheng Tzu-Yueh.[44]

Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng “Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không có nêu trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được nói tới trong ‘Bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của nước Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông’ do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc công bố vào tháng 2 năm 1974. Xem Lien-ho-pao [联合报 (Liên Hiệp Báo)], ấn bản nước ngoài, 25 tháng 2 năm 1974, p. 3.”

Điều khẳng định này xuất hiện trong bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA – bài này trích dẫn Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và Chiu và Park – nhưng như chúng ta đã thấy – các tác giả này không nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong bài báo năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của Cục Hải Dương Quốc Gia.[45] Những bài viết này không tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có bằng chứng tốt rằng tất cả các công trình này đều chỉ đơn giản là sai.

Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay sau công bố của Pháp chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự ở Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản đồ có vẽ vị trí của các đảo đó. Chỉ sau đó chính phủ ở Nam Kinh mới hiểu được rằng những đảo này không thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào.[46]

Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy rõ từ biên bản của cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1 tháng 9 năm 1933, “Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam của lãnh thổ của chúng ta.”[47]Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách trong quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối.

Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, đã phát hiện ra rằng cho tới năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc đã dẫn chứng việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như thể nó là có thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ tay Nhật Bản sau Thế Chiến II.[48]

Tóm lại, những gì có vẻ như đã xảy ra là hơn 13 năm sau khi Pháp sáp nhập các đảo, một hiểu biết khác biệt về những gì đã xảy ra vào năm 1933 đã hình thành vững chắc trong giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo tôi đoán, các quan chức Trung Quốc nhầm lẫn một phản kháng có thật năm 1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản kháng năm 1933 không hề tồn tại về quần đảo Trường Sa.

Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930

Trong bài báo năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân Quốc, “đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt tên lại tương ứng vào năm 1932, 1935 và 1947” (p.107) nhưng không có công việc khảo sát nào đã được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James] – ban đầu gọi nó là Zengmu Tan [曾母滩 Tăng Mẫu Than)]. Zeng-mu chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan [滩 (than)] có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi ngầm. Qua việc dịch sai đơn giản này một mảnh đáy biển đã trở thành một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận hôm nay – dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thànhZengmu Ansha – [暗沙 (ám sa: rạn san hô ngầm)]) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa năm 1983.[49]

Tuyên bố Cairo

Shen (2002 p. 139), và Li và Tan (2014 ) lập luận theo đúng Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, các đồng minh thời chiến đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài của CNA bàn luận về khẳng định này và rạch ròi bác bỏ nó trên cơ sở rằng,


Tuyên bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam, chỉ quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài Loan], và Pescadores [Quần đảo Bành Hồ] sau chiến tranh. Câu tiếp theo chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi các ‘vùng lãnh thổ khác’ mà họ đã chiếm bằng bạo lực, nhưng không chỉ ra rằng những ‘vùng lãnh thổ khác’ đó sẽ được trả lại cho Trung Quốc. Dù không được nêu cụ thể, kết luận hợp lý duy nhất là những ‘vùng lãnh thổ khác’ bao gồm cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, vốn đã bị đoạt lấy bằng bạo lực từ tay Pháp chứ không phải từ tay Trung Quốc. (p. 97)

Tuy nhiên, Freeman (2015) lập luận rằng vì nhà chức trách Nhật Bản sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Đài Loan nên Tuyên bố Cairo trả chúng cùng với phần còn lại của ‘Tỉnh Đài Loan’ về cho Trung Quốc. Nhưng Tuyên bố không đề cập đến từ ‘Đài Loan.’ Nó nói về Formosa và Pescadores. Kết luận hợp lý là đồng minh chỉ đồng ý rằng hai quần đảo cụ thể này [Formosa và Pescadores] sẽ được trả lại cho Trung Quốc.

Nhật Bản đầu hàng ở quần đảo Hoàng Sa

Cả bài của CNA lẫn bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman đều chuyển tải khẳng định rằng quân đội Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của các đơn vị của Nhật Bản trú đóng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối Thế Chiến II. Freeman lập luận rằng Hải Quân Mỹ thực sự đã chở lực lượng Trung Hoa tới hai quần đảo đó cho mục đích này. Trong trao đổi riêng với tác giả, ông đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng bổ trợ nào cho khẳng định đó.

Dựa trên những bằng chứng từ kho lưu trữ của quân đội Mỹ và Úc, khẳng định đó khó có vẻ là sự thật. Trong chiến tranh, Nhật Bản đã có các căn cứ quân sự trên Đảo Hoàng Sa (Pattle) và Phú Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa và Đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc quần đảo Trường Sa. Đảo Phú Lâm bị tàu ngầm USS Pargo pháo kích ngày 6 tháng 2 năm 1945[50] và ngày 8 tháng 3 máy bay Mỹ ném bom đảo này cùng với Đảo Hoàng Sa.[51] Khi tàu ngầm USS Cabrilla ghé Đảo Phú Lâm vào ngày 2 tháng 7, cờ tam tài [ba màu] của Pháp còn đang treo, nhưng lúc đó cũng có với một lá cờ trắng [mặt trời] ở trên nó.[52]

Ba Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom xăng ngày 1 tháng 5 năm 1945. Sáu tháng sau đó, Hải Quân Mỹ đã phái một toán trinh sát đến Ba Bình. Toán này đổ bộ lên đảo ngày 20 tháng 11 năm 1945 và nhận thấy đảo không người – người Nhật đã bỏ đi.

Mãi cho đến hơn một năm sau đó – tháng 12 năm 1946 mới có một phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc) mới có thể đi tới được đảo này. (Hai tháng trước đó người Pháp đã đến và khẳng định lại chủ quyền đảo này nhưng điều này hiếm khi được đề cập trong các nguồn Trung Quốc.) Tên tiếng Trung của Ba Bình là Taiping Dao (Thái Bình Đảo), được đặt theo tên tàu chiến chở phái đoàn này. Tàu Taiping trước đây là tàu USS Decker. Điều trớ trêu là nếu như Hoa kỳ không cung cấp những tàu chiến đó thì Trung Quốc sẽ không có yêu sách nào trong quần đảo Trường Sa hiện nay.

Kết luận

Việc xem xét lại các bằng chứng kiểm chứng được cho thấy một lịch sử về các đảo ở Biển Đông khác biệt với lịch sử có trong hầu hết các tài liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu quan tâm tới các đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đã được đưa ra. Chỉ trong năm 1933 sự chú ý của quốc gia mới chuyển sang quần đảo Trường Sa – và tại thời điểm đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định không cố yêu sách quần đảo này. Sự chú ý đã được hồi sinh ngay lập tức sau Thế Chiến II, dựa trên những hiểu lầm về những gì xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa vào ngày 12 tháng 12 năm 1946.

Năm 1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy lịch sử về các đảo này được viết và viết lại. Trong mỗi cuộc khủng hoảng, những người ủng hộ lập trường của Trung Quốc lại công bố những phiên bản mới của lịch sử vốn vẫn tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại thêm vào trong đó nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này vượt qua rào cản ngôn ngữ nhảy sang tiếng Anh vào giữa thập niên 1970, nền móng lung lay của chúng lại có vẻ rắn chắc đối với những người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí học thuật Phương Tây và ‘trở thành sự thật.’ Nhưng việc xem xét lại các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của chúng.

Không còn đủ thuận lợi cho những người ủng hộ yêu sách của Trung Quốc dùng những bằng chứng vô căn cứ như vậy làm cơ sở cho lập luận của mình. Đã tới lúc cần thực hiện một nỗ lực phối hợp để xem xét lại các nguồn thông tin gốc đối với phần lớn các khẳng định được các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào đó – cả trong phòng xử án ở The Hague lẫn trong các vùng nước của Biển Đông.

Cựu phóng viên BBC Bill Hayton là tác giả của The South China Sea: The struggle for power in Asia,’ (Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á), được gọi là cuốn sách đầu tiên đưa ra ý nghĩa rõ ràng về các tranh chấp ở Biển Đông.

Bản dịch được đăng lần đầu trên Viet-studies. Các chú thích do chính tác giả gửi riêng cho người dịch. Nghiencuuquocte.net biên tập một vài chỗ nhỏ trong bản dịch để phù hợp với tiêu chuẩn biên tập của trang.

—————————

[1] Li Dexia and Tan Keng Tat, South China Sea Disputes: China Has Evidence of Historical Claims. RSIS Commentary 165 dated 15 August 2014 Available at http://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/08/CO14165.pdf. See also Li Dexia, Xisha (Paracel) Islands: Why China’s Sovereignty is ‘Indisputable’. RSIS Commentary 116 dated 20 June 2014. Available athttp://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/07/CO14116.pdf

[2] Charles Freeman, Diplomacy on the rocks. Remarks at a Seminar of the Watson Institute for International Studies, Brown University 10 April 2015. http://chasfreeman.net/diplomacy-on-the-rocks-china-and-other-claimants-in-the-south-china-sea/

[3] Pete Pedrozo, China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea, Center for Naval Analyses, August 2014. Available athttp://www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf

[4] Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands,Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28.

[5] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen New York, 1982.

[6] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development. Allen & Unwin, 1998

[7] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997‐1998).

[8] Jianming Shen, China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), pp. 94‐157

[9] Brian K. Murphy, Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law, Ocean and Coastal L.J. (1994), pp. 187–212

[10] Chi-kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands. Routledge 1989

[11] Cheng Huan, A matter of legality. Far Eastern Economic Review. February 1974

[12] Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes. Routledge, London. 1989

[13] Tao Cheng, Dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal 265 (1975)

[14] Chiu & Park (1975) ibid

[15] Dieter Heinzig. ‘Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank’ Institut für Asienkunde (Hamburg). 1976

[16] Wai-chiao p’ing-lun [Ngoại Giao Bình Luận], Shanghai, vol. 2, no. 10 (October 1933), pp. 64-65

[17] Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo]], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78

[18] Fan-chih yüeh-k’an [Phương Chí Nguyệt San], vol. 7, no. 4 (Nanking, April 1, 1934), p. 2

[19] Wai-chiao-pu kung-pao, [Công Báo Bộ Ngoại Giao] vol 6, no. 3 (July-September 1933), p. 208

[20] Cheng Tzu-yüeh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải Chư Đảo Địa Lí Chí Lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948).

[21] Tuyên bố do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc đưa rangày 10 tháng 6 năm 1956, tóm lược trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted,” Free China Weekly, June 26, 1956, p. 3;Chung-yang jih-pao, June 11, 1956, p. 6; Shao Hsun-cheng, “Chinese Islands in the South China Sea,” People’s China, no. 13 (Peking, 1956) Foreign Languages Press

[22] Lien-ho-pao [United daily news], overseas edition, February 25, 1974, p. 3; “Memorandum on Four Large Archipelagoes,” ROC Ministry of Foreign Affairs (February 1974).

[23] Ming Pao (nguyệt san) No. 101 May 1974

[24] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea’, Methuen, New York. 1982

[25] Chris P.C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea. MA Thesis, University of Calgary, September 2013. p8

[26] PRC Ministry of Foreign Affairs, China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha islands, Beijing Review Vol. 23 No.7 1980 pp15-24

[27] Lin Jinzhi, Renmin Ribao (People’s Daily) 7 April 1980. FBIS-PRC-80-085 30 April 1980 p.E6

[28] Duanmu Zheng ed. Guoji Fa (International Law) Peking University Press, Beijing 1989

[29] Điều đáng lưu ý là Duanmu không phải là đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là thành viên của Liên Đoàn Dân Chủ Trung Quốc. Colin Mackerras, The New Cambridge Handbook of Contemporary China. Cambridge University Press, 2001 p85.

[30] Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[31] Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Vol. 78, No. 3 (Fall, 2005), pp. 443-461

[32] Xem, đặc biệt là, Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline.Modern Asian Studies. Vol 40, Issue 01. February 2006, pp 1-57 and An International History of the Dispute in the South China Sea, East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001)

[33] The Times “Chinese foreign relations” Jan 18, 1908; pg. 5; The Times “The recent piracy in Canton waters”. Jan 25, 1908; pg. 5

[34] The Examiner (Launceston, Tasmania) “China and her islands-keeping an eye on foreign nations” Saturday 12 June 1909 p 8

[35] Xem Granados (2005) phía trên.

[36] Điều này được chính quyền Tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933. XemCho Min, “The Triangular Relation- ship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], Vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933); p. 82, note 4.

[37] Hydrographic Office, The Admiralty, The China Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, p.103. Quoted in Bonnet 2012

[38] Tham khảo của Cheng: Saix, Iles Paracels, La Geographie (Nov.-Dec. 1933), reprinted in 3Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu Huan-Yung Chinese transl. May 1934), at 65-72;, at 67; Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch’ün-tao [The French Plot to Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 4 (April 1934), at 92.

[39] “On Li Chun’s Patrol of the Sea”(Về chuyến tuần tra của Lí Chuẩn) Kuo-wen chou-pao[National news weekly], vol. 10, no. 33 (August 21, 1933), p. 6.

[40] Committee of Place Names of the Guangdong Province [Guangdong sheng di ming wei yuan hui (Quảng Đông Tỉnh địa danh uỷ viên hôi)], Compilation of references of the names of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian (Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên)], Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, p.289

[41] Bài viết do Francois-Xavier Bonnet trình bày tại the Southeast Asia Sea conference, Ateneo Law Center, Makati, Manila. March 27 2015. (Tường thuật có ở đây:http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record)

[42] Lu, Hsi-sha Ch’iin-tao Chih-yao [Tây Sa Quần đảo Sơ yếu], 9 Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), at 50-54.

[43] Cho Min, “The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78.

[44] Cheng Tzu-yüeh [Trịnh Tư Ước], Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), p.80

[45] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997) footnote 160.

[46] François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal, IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok November 2012.

[47] Wai Jiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian [Ngoại Giao Bộ Nam Hải chư đảo đương án hội biên], Vol. 1, Taipeh, 1995, p. 47-49. Trích dẫn trong François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[48] Xem Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 031. This ROC official telegram is dated August 24, 1946. AND Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 145-146. This ROC official telegram is also dated to 1946. The month is unclear.

[49] Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (Trung Quốc Nam Hải chư đảo) Hainan International Press and Publication Center, Haikou 1996

[50] A.B. Feuer, Australian Commandos: Their Secret War Against the Japanese in World War II (Mechanicsburg, Pennsylvania, 2006), Chapter 6.

[51] US Navy Patrol Bombing Squadron 117 (VPB–117), Aircraft Action Report No. 92, available athttp://www.fold3.com/image/#302109453.

[52] US Navy, USS Cabrilla Report of 8th War Patrol, available athttp://www.fold3.com/image/#300365402 .

- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/06/01/cac-thuc-te-va-su-bia-dat-o-bien-dong/#sthash.bvtg8OXH.yOjtJ0a9.dpuf

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 5 năm 2015

Tranh chấp Biển Đông càng để lâu càng bất lợi

Theo dõi tình hình Biển Đông ta thấy VN có dù là nạn nhân chính và đầu tiên của CN bành trướng bá quyền TQ nhưng luôn tỏ ra là bên tranh chấp "bình chân như vại" nhất trong bất cứ tình huống nào , kể cả từ vụ giàn khoan 981 đến vụ "đảo nhân tạo" . Lạc quan là một đức tính rất đáng trân trọng, nhưng nguyên nhân và hệ quả của nó mới là điều đáng quan tâm. Bài báo dưới đây của người Nhật cho ta một cách nhìn khách quan góp phần giải đáp mối quan tâm này.

Liệu sau 40 năm qua đã đủ để nhìn lại toàn bộ vấn đề chưa? Trong nhiều câu hỏi có một vài câu hỏi khiến ai cũng phải suy ngẫm. Đó là , nếu một cuộc đụng độ thật sự đã không bị Hà Nội cố tình tránh né với Bắc Kinh kể từ vụ xâm lược Hoàng Sa (năm 1974) hoặc chậm hơn là vụ xâm lược Gạc Ma (năm 1988) thì chắc giờ đây không có cái gọi là "vấn đề tranh chấp Biển Đông"  hoặc nếu có thì chỉ là âm ỉ không đáng quan ngại? Phải chăng thế giới, đặc biệt là VN, đã để tuột mất những cơ hội và giờ đây là một cơ hội cuối cùng khả dĩ còn có thể cứu vãn?

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này