Thứ Bảy, ngày 18 tháng 4 năm 2015

Các nước ĐNÁ, kể cả VN chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông

Đó là nhận xét của Đô đốc Samuel Locklear - Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ mới đây và được đài VOA ngày 16-04-2015 đưa tin.
Như một sự trùng hợp minh họa cho nhận xét trên, hôm qua 2 chiếc máy bay chiến đấu của Không quân VN đang diễn tập tại vùng biển đảo Phú Quý đã cùng lúc lao xuống biển trong một tai nạn. Nhiều năm nay tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm trắng trợn và rất sâu trong hải phận của VN như vào chỗ không người, dân chài miền Trung liên tục là nạn nhân của tàu thuyền Trung Quốc. Qua cụ giàn khoan 981 cho thấy sự chênh lệch lực lượng hoàn toàn với đối phương. Người dân khó hiểu về tiềm lực quốc phòng thật sự của đất nước đến mức nào, và tại sao con số tướng lĩnh tăng cao nhất thế giới nhưng chất lượng binh lực lại dẫm chân tại chỗ, nếu không nói là tụt hậu, đặc biệt quá yếu kém so với đối phương? Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù lại một lần nữa phát động chiến tranh xâm lược bành trướng?
Nhân đây cũng xin lưu ý về câu kết trong phát biểu của Đô đốc Samuel Locklear: "Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng của mình với quyết tâm rất lớn và chính sách của Mỹ cần phải được điều chỉnh một cách thận trọng.". Sự "thận trọng" này của Mỹ là gì nếu không phải là "có giới hạn", và giới hạn đó là gì thì người VN có thể nhận biết qua quá trình người Mỹ đã dung túng TQ lấn chiếm Biển Đông như thế nào thời gian qua. Và nếu nói Việt Nam "dựa vào nội lực là chính", thì chắc là khó lắm khi mà "thế trận lòng dân" không còn nữa - Bách Việt. 


Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ , Đô đốc Samuel Locklear nói rằng cho tới giờ các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam và Philippines, có rất ít thành quả trong việc ứng phó hữu hiệu hành động của Trung Quốc.  

Viên chỉ huy của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cho biết Trung Quốc đang tiến hành những hoạt động lấp biển lấy đất với qui mô lớn tại những bãi cạn đang có tranh chấp ở Biển Đông. Theo tường thuật của thông tín viên Victor Beattie của đài VOA, Đô đốc Samuel Locklear cho biết như thế hôm thứ tư trong một cuộc điều trần tại Hạ viện Mỹ.

Đô đốc Samuel Locklear nói với các thành viên của Uỷ ban Quân vụ Hạ viện rằng Trung Quốc “không cho thấy sự chậm lại trong tiến độ hiện đại hoá quân đội, nhất là hải quân.”

Ông cho biết chi tiêu quân sự gia tăng với tỉ lệ hai con số mỗi năm trong 5 năm liên tiếp đang giúp cho Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng ở Biển Đông Trung Hoa và Biển Nam Trung Hoa:

“Giờ đây, họ đang thực hiện việc này với những gì mà chúng tôi nhận thấy là những hoạt động lấp biển lấy đất với qui mô khá lớn ở quần đảo Trường Sa và nâng cấp các cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa, là hai khu vực ở Biển Đông.”

Người đứng đầu Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương cho rằng những hoạt động đó giúp cho Trung Quốc có khả năng bố trí, dùng làm căn cứ và tiếp tế cho những tàu bè phi quân đội, như tàu hải giám, trong khu vực này. Ông nói tiếp:

“Trên cơ bản nó cho phép họ phát huy ảnh hưởng trong khu vực hiện giờ là khu vực có tranh chấp. Sự nới rộng diện tích đất đai ở đó rốt cuộc sẽ có thể dẫn tới chỗ bố trí những thứ, như ra đa quân sự tầm xa và những loại phi đạn tối tân, và nó có thể là cơ sở để chấp hành một vùng nhận dạng phòng không trong trường hợp họ muốn thiết lập một vùng như vậy.”

Đô đốc Locklear cũng nói rằng cho tới giờ này, các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam và Philippines, có rất ít thành quả trong việc hình thành một sự ứng phó hữu hiệu đối với những hành động của Trung Quốc.

Những hình ảnh chụp từ vệ tinh do công ty DigitalGlobe công bố hôm Thứ ba cho thấy hai đảo Phú Lâm và Quang Hoà của quần đảo Hoàng Sa đã được nới rộng một cách đáng kể. Những hình ảnh khác cho thấy những hoạt động xây dựng ồ ạt của Trung Quốc tại ít nhất 7 bãi đá san hô ở Trường Sa mà Việt Nam và Philippines cũng có yêu sách chủ quyền. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết các đảo nhân tạo đó sẽ được dùng cho các mục tiêu dân sự và quân sự.

Cũng tại cuộc điều trần hôm thứ tư, Phó Bộ trưởng Quốc phòng Christine Wormuth cho biết những hoạt động trên biển của Trung Quốc đã tạo ra những sự xích mích đáng kể với các nước láng giềng:

“Chúng tôi đã thúc giục Trung Quốc chứng tỏ sự tự chế và tránh thực hiện thêm những hành động gây phương hại tới sự tin tưởng trong khu vực. Chúng tôi cũng đã tiếp tục hối thúc Trung Quốc làm rõ ý nghĩa của yêu sách mơ hồ của đường chín đoạn như một điểm khởi đầu nhằm giảm thiểu căng thẳng và mang lại một sự minh bạch nhiều hơn cho các quốc gia trong khu vực.”

Tuần trước, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói, “Chúng tôi quan tâm tới vấn đề Trung Quốc không hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực và luật lệ quốc tế và đang dùng kích cỡ và cơ bắp của mình để ép các nước khác vào những vị thế tuân phục.” Mặc dầu vậy, nhà lãnh đạo Mỹ cho biết ông nghĩ rằng sự hung hăng trên biển của Trung Quốc có thể được giải quyết thông qua các phương tiện ngoại giao.

Trung Quốc tố cáo Washington thiên vị trong cuộc tranh chấp và can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực, kể cả vụ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với một nhóm đảo ở Biển Đông Trung Hoa, để “hòng cứu vãn ảnh hưởng đang tàn lụi ở Á châu Thái Bình Dương.”

Ông John Blaxand, một chuyên gia quốc phòng của Đại học Quốc gia Australia, cho biết Trung Quốc đang sử dụng những nguồn lực vô cùng to lớn để hỗ trợ cho những yêu sách chủ quyền và đang vẽ lại bản đồ ở Biển Đông:

“Họ đang làm ra những hòn đảo mới, những hòn đảo rất khó lòng trở lại như cũ. Đây là một việc chưa từng có. Khả năng xảy ra xung đột trong số những nước có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa đang gia tăng, và rõ ràng là tính chất trọng yếu của việc này rất cao. Nhưng, theo cái nhìn của Trung Quốc, bảo vệ các tuyến giao thương và tài nguyên của mình là những quyền lợi quốc gia có tính chất sinh tử.”

Ông Blaxand cho biết Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng của mình với quyết tâm rất lớn và chính sách của Mỹ cần phải được điều chỉnh một cách thận trọng.


Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

Một bước đột phá trong quan hệ Việt – Mỹ (*)

(*) Đây là tiêu đề  bài viết của tác giả  người Mỹ Alexander L. Vu Ving  trên tạp chí The Diplomat, số ra ngày 10/04/2015 được dịch ra tiếng Việt và đưa lại bởi RFI. Blog Bách Việt xin mạn phép đưa lại để  bạn đọc tham khảo không nhất thiết phản ảnh quan điểm của trang chủ.
   
Buổi làm việc giữa phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang (thứ hai trái) dẫn đầu với Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ. Ảnh của Bộ An ninh Nội địa Mỹ, đưa lên mạng ngày 19/03/2015.Photo : Secretary of Homeland Security


Chuyến thăm gần đây biểu tượng cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên trong quan hệ song phương.
Nổi bật lên như là một trong những quan hệ chủ chốt tại Châu Á - Thái Bình Dương, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã có bước đột phá đáng kể trong thời gian gần đây. Cho dù không được báo chí quốc tế theo dõi, bước đột phá này đã được thể hiện trong chuyến công du Washington từ ngày 15 đến 20/03/2015 của Bộ trưởng Công an Việt Nam Trần Đại Quang. Có thể truyền thông ít chú ý tới chuyến đi bởi vì sự kiện này được coi như là một sự trao đổi thường lệ ở cấp Bộ trưởng. Thế nhưng, chuyến viếng thăm của ông Quang lại không hề là một thông lệ và nội dung các cuộc trao đổi của ông cho thấy sự thay đổi về chất lượng trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam.
Là một trong hai Bộ trưởng có thế lực nhất trong chính phủ Việt Nam (người kia là Bộ trưởng Quốc phòng), ông Quang cũng là một thành viên chủ chốt trong ban lãnh đạo tập thể Việt Nam, tức Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Các nguồn tin Việt Nam cho biết là ông Quang công du Mỹ trước tiên là với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị và mục đích chính chuyến đi là chuẩn bị cho cuộc viếng thăm vào tháng Sáu của lãnh đạo tối cao Việt Nam, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng.
Điều không bình thường đối với một vị Bộ trưởng là ông Quang đã có những cuộc nói chuyện với các quan chức cao cấp của nhiều cơ quan trong chính phủ Mỹ, không chỉ với Bộ An ninh Quốc nội và Cục Điều tra Liên bang FBI, mà còn với Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Tư pháp và Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA. Ông Quang cũng gặp gỡ các nhà lập pháp cấp cao tại Nghị viện. Chủ đề các cuộc nói chuyện của ông vượt ra khỏi thẩm quyền của Bộ Công an, từ quốc phòng và an ninh cho đến thương mại và đầu tư. Nhân quyền cũng là một chủ đề trong các cuộc trao đổi của ông với các đối tác Mỹ. Theo các nguồn tin Việt Nam, phần quan trọng trong chuyến đi của ông Quang là nhằm thúc đẩy sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Nam trong các tranh chấp ở Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực.
Khi phái ông Quang đi Mỹ, Bộ Chính trị tại Hà Nội đã đưa ra một thông điệp rõ ràng về thái độ của mình đối với cựu thù. Ông Quang được lựa chọn đi chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của ông Trọng, bởi vì ông có được lòng tin của lãnh đạo đảng Cộng sản. Nhưng đồng thời, ông cũng là người chỉ huy lực lượng an ninh chịu trách nhiệm bảo vệ chế độ. Với danh nghĩa này, tại Mỹ, ông có thể là đối tượng hàng đầu của các chỉ trích về nhân quyền. Chuyến đi của ông Quang với tư cách là cuộc viếng thăm chính thức đầu tiên của một Bộ trưởng Công an Việt Nam tới Mỹ cho thấy giờ đây, Hà Nội cảm thấy thoải mái khi quan hệ với một đối thủ về tư tưởng. Về phần mình, việc Washington đối xử hữu nghị với ông Quang đã làm Hà Nội bớt nghi kỵ và coi Mỹ như thế lực thù địch.
Mối quan hệ đã thay đổi
Chuyến công du của ông Quang là sự kiện gần đây nhất trong khuôn khổ một loạt các cuộc gặp và đã làm thay đổi bản chất mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam trong những năm vừa qua. Chuyến thăm Hà Nội hồi tháng 07/2012 của cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kích hoạt tiến trình biến đổi này. Trong chuyến thăm này, bà Clinton đã gặp lãnh đạo đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và mời ông thăm Mỹ. Tính biểu tượng của các động thái này cho thấy Washington đã chấp nhận những khác biệt về ý thức hệ với chế độ Việt Nam và nhìn nhận đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam như một đối tác và những người cầm quyền ở Hà Nội đã chấp nhận mối quan hệ đối tác này. Ý nghĩa của việc bà Clinton mời ông Trọng có tầm quan trọng đối với Hà Nội. Điều này cho thấy là mặc dù đối lập về vấn đề ý thức hệ, Hoa Kỳ giờ đây muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị nghiêm túc với Việt Nam. Trên thực tế, cuộc gặp đã mở cửa cho việc phát triển quan hệ thực chất giữa chính phủ Mỹ và đảng Cộng sản Việt Nam.
Chuyến thăm của bà Clinton đặt nền tảng cho việc thiết lập Thỏa thuận Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt, được chính thức ký kết một năm sau đó tại Washington nhân hội nghị Thượng đỉnh hồi tháng 07/2013, giữa Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang. Trong thỏa thuận khung quan hệ đối tác này, Washington và Hà Nội cam kết « các bên tôn trọng hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ » của nhau. Trên cơ sở nguyên tắc này, thỏa thuận khung đề cập đến hợp tác trên mọi lĩnh vực, từ quan hệ chính trị và ngoại giao đến quan hệ thương mại và kinh tế, từ công nghệ và giáo dục đến quốc phòng và an ninh, từ văn hóa, thể thao và du lịch cho đến các vấn đề tồn tại sau chiến tranh, từ môi trường và y tế tới việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
Đầu tháng 10/2014, khi Ngoại trưởng Mỹ John Kerry gặp Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, Hoa Kỳ thông báo quyết định bãi bỏ một phần lệnh cấm vận, vốn áp dụng từ nhiều thập niên qua, trong việc cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhằm hỗ trợ thúc đẩy an ninh hàng hải. Cấm vận vũ khí là một trở ngại lớn từ phía Hoa Kỳ trên con đường thắt chặt quan hệ Mỹ-Việt.
Một trở ngại khác từ phía Việt Nam đã được dỡ bỏ khi ông Trần Đại Quang thăm Mỹ trong năm nay. Khi nói chuyện với các đối tác Mỹ, ông Quang khẳng định rằng Hà Nội sẵn sàng cho phép tổ chức thiện nguyện Đội Hòa Bình (US Peace Corps) hoạt động tại Việt Nam. Điều này đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong thái độ của chế độ cộng sản đối với đối thủ về tư tưởng. Cách nay 5 năm, trong một bản đề cương chính sách quan trọng của Ban Tuyên huấn đảng trung ương Cộng sản Việt Nam, những người « canh gác » về tư tưởng Việt Nam đã tố cáo Đội Hòa Bình là một « thế lực thù địch » và là một tổ chức chuyên tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lật đổ chống lại chế độ cộng sản.
Quan hệ giữa Hoa Kỳ và nước Việt Nam cộng sản được bình thường hóa khá chậm chạp. Phải mất hai thập niên sau khi kết thúc chiến tranh thì hai bên mới thiết lập quan hệ ngoại giao (1995). Và lại phải mất thêm hai thập niên nữa, sau khi lập quan hệ ngoại giao, thì bang giao song phương mới bình thường hóa hoàn toàn. Chuyến thăm Washington của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng Sáu sẽ là giao đoạn cuối cùng trong tiến trình bình thường hóa quan hệ này.
Những lợi ích tương đồng
Nếu như Trung Quốc là một yếu tố quan trọng vừa ngăn cản vừa thúc đẩy mối quan hệ Mỹ-Việt, thì các lực cản chính kìm hãm Hà Nội và Washington xích lại gần nhau lại là những vấn đề hệ tư tưởng và tâm lý hơn là vấn đề vật chất. Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, các lợi ích chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ tương đồng với mối ưu tiên cao nhất của cả hai nước ở trong khu vực, đó là có một môi trường hòa bình và ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế. Từng là một thế lực chống đối, Việt Nam nay chuyển sang ủng hộ trật tự khu vực do Mỹ hỗ trợ. Về phần mình, Mỹ từ bỏ ý đồ làm suy yếu và cô lập Việt Nam. Thay vào đó, Mỹ mong muốn Việt Nam hùng mạnh, phồn thịnh. Tuy nhiên, cả Mỹ và Việt Nam đều cảm nhận bên kia như một mối đe dọa tới bản sắc của riêng mình. Tại Mỹ, ký ức về sự thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam và việc tự nhận thức mình như là một chiến sĩ bảo vệ quyền tự do đã tạo ra nhiều thế lực chống lại việc thắt chặt quan hệ với Hà Nội. Tại Việt Nam, mong muốn giữ gìn chế độ và sự thống trị của tư tưởng bài Tây phương đã ngăn chặn mọi bước tiến hướng tới quan hệ hữu nghị với Washington.
Các nỗ lực liên tục của cả Hà Nội và Washington đã đóng một vai trò quan trọng làm giảm thiểu các nhận thức bên này là một mối đe dọa đối với bên kia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, yếu tố quyết định thúc đẩy hai cựu thù trở thành bạn bè, đó là sự xuất hiện mối đe dọa về an ninh đối với cả hai bên. Sự bành trướng trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm thay đổi các tính toán chiến lược của cả Hà Nội và Washington. Đối mặt với thách thức to lớn đến từ phía Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ giờ đây đang chuẩn bị giảm bớt cáTâm Châu Á - Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng hay chính phủ Mỹ.c bất đồng về ý thức hệ để tập trung vào những lợi ích chiến lược chung.
Bước đột phá mở cửa hướng tới quan hệ đối tác chặt chẽ giữa Mỹ và Việt Nam không diễn ra một lần mà là theo từng bước. Nó bắt đầu từ chuyến thăm Hà Nội của bà Hillary Clinton hồi tháng 07/2012 và sẽ lên tới đỉnh điểm trong chuyến công du Washington của ông Nguyễn Phú 
Alexander L.Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á - Thái Bình DươTrọng vào mùa hè năm nay. Tiến trình diễn ra từng bước, nhưng sự thay đổi lại rất to lớn. Cách nay một thập niên, các quan chức tại Hà Nội đã nói với tôi rằng về mặt không chính thức, chính phủ của họ coi Trung Quốc là đồng minh chiến lược, cho dù về mặt chính thức thì không phải như vậy. Ngày nay, mọi người đều hiểu rằng quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ là quan hệ đối tác toàn diện trên danh nghĩa nhưng về nội dung, đó là quan hệ đối tác chiến lược./.

 

Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2015

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Dân trí 15/4/2015: Trong những ngày qua, báo chí Mỹ và châu Âu đã đồng loạt có nhiều bài viết mổ xẻ các hành động gia tăng căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là việc nước này đẩy mạnh cải tạo, mở rộng đảo.

 >> Trung Quốc ráo riết xây dựng trái phép ở Hoàng Sa
 >> Trung Quốc đưa tàu khảo cổ trái phép tới Hoàng Sa 
 >> Câu hỏi sau những dự án khổng lồ của Trung Quốc

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông
Các hoạt động của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông đang khiến cộng đồng quốc tế quan ngại (Ảnh: DailyMail)

Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2015

Chuyến đi "lợi bất cập hại"

Duyệt đội danh dự tại Bắc Kinh  
Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc đã bước sang ngày cuối cùng, tuy chưa hoàn toàn kết thúc nhưng phần nội dung đã được truyền thông của cả hai nước loan báo đủ để những ai quan tâm cũng có thể bình luận mà không lo bị cho là "thiếu thông tin". Theo sự mô tả của truyền thông chính thống của cả hai nước, thì chuyến thăm có vẻ như là thành công lớn nhất kể từ khi Trung Quốc công khai tiến hành các hoạt động bành trướng trên toàn bộ Biển Đông kể cả đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như dọc bờ biển của Việt Nam. Thậm chí có người tin rằng sau chuyến thăm tình hình sẽ tốt đẹp hơn như thể "hết mưa trời lại nắng" vậy ! Đối với người Việt Nam vốn hay lạc quan, thì cảm giác này cũng là dễ hiểu, vì  nếu không, làm sao họ có thể tồn tại dưới cái bóng của gã khổng lồ trong hàng ngàn năm qua (!?) Thôi thì, nếu khi nào còn có thể, hãy sống bằng hy vọng. Nhưng cũng đừng quên những phen vỡ mộng lắp đi lắp lại chỉ trong vòng 1/2 thế kỷ qua. Và cũng đừng quên bờ cõi giang sơn Việt Nam dù  phải dịch chuyển về phía Nam vẫn chưa thể tránh khỏi nguy cơ bị thôn tính.

Thứ Năm, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Xu thế ghét Trung Quốc: Vài lời ngỏ cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh

(Bài do tác giả gửi đến Blog Bách Việt)



Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2014 của Chính phủ, ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng tỏ vẻ bất an và bực bội về hiện tượng tâm lý trong xã hội Việt Nam ta, đó là hiện tượng mà ông ta gọi là xu thế “ghét Trung Quốc”.

Thứ Tư, ngày 01 tháng 4 năm 2015

Một cách nhìn về Lý Quang Diệu Một chính khách lớn và một người thầy xấu

MỘT CHÍNH KHÁCH LỚN VÀ MỘT NGƯỜI THẦY XẤU 

Mở đầu bài viết tưởng niệm Lý Quang Diệu đăng trên báo The Washington Post, Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ, người được xem là tổng công trình sư về chính sách đối ngoại của Mỹ thời chiến tranh lạnh, nhận định: “Lý Quang Diệu là một vĩ nhân” (Lee Kuan Yew is a great man). Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair, cho Lý Quang Diệu là lãnh tụ sắc sảo nhất mà ông từng được gặp (the smartest leader I ever met). Tổng thống Mỹ Barack Obama cho Lý Quang Diệu là một “người khổng lồ đích thực của lịch sử”, “một hình ảnh truyền thuyết của châu Á trong thế kỷ 20 và 21”.

Thứ Năm, ngày 19 tháng 3 năm 2015

Lại "dấu đầu hở đuôi" ?

Từ một sự việc vốn không hay ho gì và đã được coi là "thường ngày ở huyện" bỗng trở thành "hot news" cả trên báo chí lề trái và lề phải khi vị đứng đầu ngành CA của Thủ đô Hà Nội đứng ra công khai đề cập trước báo giới và công luận về vụ việc một số thanh niên mặc áo phông màu đỏ trên có logo mô phỏng biểu trưng của ngành CA (công an) với dòng chữ “DLV đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc” tại Hồ Gươm hôm 14/3. Điều đáng chú ý là người đứng đầu CA Hà Nội đã khẳng định những người đó là "lực lượng tự phát". Vị này còn nói với báo Thanh niên rằng khi phát hiện sự có mặt của nhóm này, đội an ninh trật tự của thành phố đã yêu cầu các lực lượng đó giải tán, đồng thời xác nhận nhóm này không thuộc lực lượng do Thành ủy, Ban Tuyên giáo hay Công an tổ chức. Họ chỉ mặc trang phục có in chữ DLV chứ không thuộc đội ngũ dư luận viên thành phố. 

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này